3.4. Các tình
huống mô phỏng
Thực hành của sinh viên trong các tình
huống mô phỏng, dịch hội thoại và dịch ứng đoạn (dịch hội thảo), là một trong
những yếu tố quan trọng nhất và do vậy nó chiếm một tỷ lệ lớn trong thời lượng
của toàn môn học. Theo Ko (1996), khi dạy dịch hội thoại, chúng ta nên lôi kéo
sinh viên tham gia càng nhiều càng tốt vào thực hành, các em có thể là người mô
phỏng diễn giả hoặc người dịch, bởi vì chính sự tiến bộ về khả năng nói sẽ hỗ
trợ cho các kỹ năng phiên dịch của sinh viên. Đóng vai, theo Adams và một số
tác giả khác (1995), không chỉ giúp sinh viên tổng hợp kiến thức về chủ đề mà
các em đang thực hiện vì nó đòi hỏi sinh viên phải sử dụng thành thạo và chính
xác những gì họ đã được học, mà còn nêu lên bất kỳ vấn đề nào sinh viên có thể
sẽ gặp phải trong khi diễn đạt ý, diễn thuyết và chuyển đổi ngôn ngữ. Ở các
giai đoạn khác nhau trong quá trình học ở 2 năm cuối này, sinh viên sẽ được
quay video các tình huống mô phỏng và sau đó thảo luận đánh giá về cuốn băng
ghi hình đó trước lớp. Phần thảo luận đánh giá sẽ bao gồm nhiều khía cạnh khác
nhau ví dụ như phần giới thiệu, các phần nói trực tiếp, cách giao tiếp của
người dịch với người nghe bằng mắt, độ tin cậy, chính xác, v.v…
Về tài liệu để luyện tập dịch ứng đoạn,
Weber (1989b) nhấn mạnh nên sử dụng các bài nói và phần ghi âm các bài khoá
được đọc hay được nói có tốc độ trung bình vì nếu tốc độ chậm quá có thể sẽ
phản tác dụng. Chính vì vậy mà việc sử dụng cách ngữ liệu như các chương trình
tiếng Anh đọc chậm của VOA chỉ nên coi là giải pháp tình thế cuối cùng nếu
không thể có nguồn tiếng Anh nào khác.
Thực hành các tình huống mô phỏng sẽ giúp
chúng ta liên hệ giữa lý thuyết với thực hành. Theo Seleskovitch (1989), trong
thực tế, không bao giờ có bài nói nào được dịch lại lần thứ hai, vì vậy việc
luyện tập đi luyện tập lại một bài nói trên lớp sẽ không có nhiều tác dụng trừ
khi chúng ta muốn kết hợp để phổ biến các nguyên tắc chung của dịch. Sau khi
thực hành, giáo viên và sinh viên sẽ cùng thảo luận những kỹ năng cơ bản như
cách chữa phần nghe hiểu, ghi chép trong từng đoạn, chữa cách sử dụng các
phương tiện hỗ trợ về nhận thức, diễn đạt rõ ràng các ý, chuyển mã ở những phần
có thể áp dụng được.
3.5. Ứng khẩu
Makarova
(1994) đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc dạy kĩ năng ứng khẩu trong đào tạo
phiên dich và biên dịch. Trong các tình huống phiên dịch, người dịch không
tránh khỏi việc gặp những từ ngữ hay thậm
chí những suy luận nằm ngoài dự tính về một từ ngữ quen thuộc. Vì vậy khả năng ứng
khẩu được coi là một hình thức chuẩn bị ngoài ngôn ngữ cần thiết đối với người
dịch và cũng là một trong các cách giúp người dịch kiểm soát sự căng thẳng. Ít
nhất, người dịch nhờ ứng khẩu cũng cung cấp được cho người nghe một vài thông tin
nào đó còn hơn phải dừng lại ở giữa câu để tìm đúng từ hay cách diễn đạt của từ
hay cụm từ nào đó để rồi mất toàn bộ câu hoặc đoạn tiếp theo. Các bài tập như đọc
lướt một bài viết để tìm thuật ngữ, đoán từ còn thiếu, làm việc với văn bản
không có nghĩa hoặc các văn bản có sự thay đổi ngôn ngữ liên tục, ... sẽ giúp
người dịch bù lấp những lỗ hổng không thể tránh khỏi trong kiến thức bằng trí
thông minh và khả năng ứng khẩu thành thục.
3.6. Làm quen
với các loại giọng khác nhau
Theo Viezzi (1990), phiên dịch cần làm
quen với một số loại giọng nói phổ biến nhất. Điều này đặc biệt đúng với trường
hợp của Việt Nam vì ở đây, khách hàng có nhu cầu phiên dịch đến từ rất nhiều
quốc gia trên thế giới, không chỉ từ những nước nói tiếng Anh, ví dụ như tiếng
Anh của các nước trong khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái lan, Singapore, vv.
Vì vậy, một yêu cầu đối với công tác đào tạo phiên dịch chính là “tính phổ quát
ngôn ngữ” (Komissarov, 1988). Ví dụ, trong một cuộc hội thảo quốc tế tổ chức ở
Việt Nam, người dịch đôi lúc sẽ gặp phải những bài nói với âm giọng rất nặng,
mắc nhiều lỗi hoặc nói lỡ lời, hay những bài nói của các diễn giả tư duy theo
ngôn ngữ bản xứ rồi dịch sang tiếng Anh. Được tiếp xúc thường xuyên với nhiều
loại giọng nói khác nhau sẽ là trang bị vô cùng quý giá đối với nghề nghiệp
trong tương lai của sinh viên. Về vấn đề này, nếu những người tham gia công
tác giảng dạy vừa là những phiên dịch
chuyên nghiệp sẽ là điều vô cùng hữu ích bởi khi đi dịch giáo viên có thể xin
phép ban tổ chức hội thảo cho ghi âm hoặc ghi hình lại cuộc hội thảo thật để
dùng làm tư liệu giảng dạy cho sinh viên.
3.7. Gặp gỡ
các phiên dịch chuyên nghiệp
Những người đang làm công tác phiên dịch
có thể được mời đến tham gia các cuộc thảo luận của sinh viên để cung cấp kiến
thức về yêu cầu đa dạng của nghề trong nhiều lĩnh vực khác nhau, tập trung vào
các vấn đề về lý thuyết và thực tế nghề nghiệp, ví dụ như tính công bằng, thái
độ trung lập, cách làm chủ tình huống, v.v... Các khó khăn và kỹ năng cụ thể sẽ
được xem xét, bàn luận và đánh giá trong các cuộc thảo luận như thế này. Thỉnh
thoảng, khi đi dịch, các phiên dịch chuyên nghiệp có thể bố trí cho sinh viên
tham dự hội thảo và quan sát công việc của người dịch.
4. Phương pháp giảng dạy
Đối với môn học này, các phương pháp
giảng dạy sẽ được sử dụng là: bài giảng, hướng dẫn phụ đạo, thảo luận, hội
thảo, thực hành trong phòng thiết bị, các tình huống và hội thảo ba góc mô
phỏng, các hoạt động nhóm nhỏ, v.v…
Ví dụ, để tạo lập một tình huống thực
hành sát với thực tế, thông thường giáo viên sẽ cố gắng để người dịch có được
khán giả đích thực, tức là người chưa được nghe nội dung sắp được dịch. Khi
giáo viên sử dụng một bài diễn văn hay hội thoại để sinh viên tập dịch trên
lớp, cách thường làm vẫn là giáo viên, hoặc một sinh viên nói bằng ngôn ngữ
nguồn, sau đó chỉ định một sinh viên dịch sáng ngôn ngữ đích. Làm như vậy có
các nhược điểm là: thứ nhất, những sinh viên đóng vai khán giả sẽ được nghe cả
bản nguồn và bản đích, tức là sự đón nhận bản dịch của họ không hoàn toàn ‘tự
nhiên’ và gần với tình huống thực, khi mà người nghe phải dựa vào người phiên
dịch để nắm được nội dung bản nguồn; thứ hai, bản thân người dịch cũng có cảm
giác giống như mình đang bị người khác kiểm tra trình độ, chứ không phải là
mình đang thực sự ‘truyền đạt lại’ thông điệp cho những khán giả không nghe và
hiểu được cả 2 ngôn ngữ. Để khắc phục nhược điểm này, chúng tôi khuyến nghị
phương pháp thường được áp dụng trong các trường dạy phiên dịch ở Châu Âu và Úc
mà tôi đã có dịp tham dự. Thông thường, trước khi thể hiện văn bản nguồn, giáo
viên sẽ chỉ định một hoặc hai sinh viên ra khỏi phòng, tức là khi diễn đạt xong
văn bản nguồn (giáo viên nói hoặc bật băng), các sinh viên đó trở lại phòng và
sẽ là những người nghe đích thực của người phiên dịch. Những khán giả ‘đích
thực’ này sẽ phải chú ý lắng nghe và hoàn toàn phụ thuộc vào người phiên dịch
để có thể nắm được nội dung của văn bản nguồn, giáo viên cũng có thể yêu cầu họ
kể lại ‘câu chuyện’ mà người phiên dịch vừa ‘kể’ cho họ (giống như trò chơi
‘tam sao thất bản’). Các sinh viên còn lại sẽ đóng vai những người quan sát và
cùng với giáo viên nhận xét về quá trình và chất lượng dịch. Ngoài ra việc khai
thác các phòng luyện dịch ở B3 và A3 cũng rất hữu ích, đặc biệt là giúp sinh
viên tự luyện độc lập theo sự chỉ dẫn của giáo viên.
5. Đánh giá
Nên có sự kết hợp giữa đánh giá thường
xuyên và kiểm tra hết học phần, ở tổ Dịch khoa Anh, chúng tôi hiện đang áp dụng
tỷ lệ giữa đánh giá thường xuyên và thi là 40:60, tiến tới sẽ tiếp tục giảm dần
tỷ trọng của bài thi cuối cùng. Mục đích
chính của bài kiểm tra này là đảm bảo rằng sinh viên sau mỗi học phần có thể
tiến gần hơn tới các yêu cầu được coi là chuẩn mực nghề nghiệp. Để đạt được
điều đó, trong bài thi sinh viên sẽ phải hoàn thành hai bài dịch nói từ tiếng
Việt sang tiếng Anh và ngược lại. Tất cả các bài tập này sẽ kiểm tra các kỹ
năng phiên dịch và kỹ năng tiếng nói chung của sinh viên trong các lĩnh vực
chuyên ngành được giảng dạy trong khoá học.
Trong quá trình làm việc sau này, những
người phiên dịch có thể phải sử dụng tất cả các kỹ năng được đánh giá trong các
bài thi hết học phần. Do đó, để đánh giá trình độ của sinh viên một cách thực
tế, chúng tôi sắp xếp các bài thị theo các kỹ năng từ dễ đến khó, thường ở các
học phần đầu, sinh viên sẽ dịch các đoạn hội thoại hoặc câu nói ngắn, đến các
học phần cuối, sinh viên phải dịch một đoạn văn khá dài, với nội dung tương đối
hoàn chỉnh, có thể tới 2-3 phút.
5.1. Mô tả
Bài dịch ứng đoạn sẽ kiểm tra kỹ năng
dịch nói của sinh viên trong bối cảnh một hội nghị. Bài tập này bao gồm hai bài
dịch ngược và xuôi với 2 tình huống khác nhau, mỗi tình huống kéo dài 5 phút
(kể cả phần dịch). Sinh viên sẽ được yêu cầu dịch một bài nói bằng tiếng Anh
khoảng 250 từ (tương đương 3 phút) sang tiếng Việt và một bài có độ dài tương
tự từ tiếng Việt sang tiếng Anh. Hai bài nói này sẽ được ghi âm từ trước và
được phát qua hệ thống máy của phòng lab B3. Bài dịch của sinh viên sẽ được ghi
âm và chấm sau đó. Ưu điểm của phương pháp này là có thể kiểm tra được nhiều
sinh viên trong thời gian ngắn, đảm bảo sự công bằng và nhất quán trong đánh
giá (so với việc sinh viên vào nhiều phòng thi khác nhau với nhiều giám khảo
khác nhau). Nhược điểm lớn nhất của cách tổ chức thi này là không có sự giao
tiếp thực giữa người dịch và người nghe (giám khảo).
Hai bài nói này đều có văn phong trang
trọng, yêu cầu dịch rõ ràng và chính xác. Sau khi nghe, sinh viên sẽ có một
phút để xắp xếp ý và 2-3 phút để dịch lại một cách chính xác và đầy đủ.
5.2. Các tiêu
chí đánh giá
Sinh viên sẽ được đánh giá theo các tiêu chí
sau:
·
Hoàn chỉnh:
Sinh viên phải thể hiện được khả năng chuyển đổi một bài nói từ ngôn ngữ này
sang ngôn ngữ kia một cách hoàn chỉnh, không làm mất hoặc sai lệch ý. Sinh viên
phải có khả năng ghi chép để dịch lại bài nói và thái độ của tác giả một cách hoàn
chỉnh (tức là phải thể hiện giọng điệu, phong cách.... của tác giả một cách
trung thành)
·
Tính chính xác và phù hợp: Sinh viên phải thể hiện khả năng truyền đạt thông
tin tốt, diễn đạt bằng cách khác nếu cần, và thể hiện sự hiểu biết và sử dụng
ngôn ngữ phù hợp với văn cảnh.
·
Độ trôi chảy:
Sinh viên sẽ phải phiên dịch một cách trôi chảy để người nghe cảm thấy bản dịch
dễ hiểu và dễ nghe. Các yếu tố như cách phát âm và ngữ điệu, nhấn mạnh, …, cũng
sẽ được đánh giá.
·
Từ vựng và cấu trúc: Sinh viên phải lựa chọn từ ngữ phù hợp trong cả hai ngôn ngữ. Sinh
viên cũng phải sử dụng đúng những cấu trúc ngữ pháp trong cả hai ngôn ngữ để
giữ được sự rõ ràng và nội dung của bản gốc.
·
Thuật ngữ:
Sinh viên phải có khả năng sử dụng đúng những thuật ngữ phù hợp với lĩnh vực
được kiểm tra.
6. Kết luận
Quy trình giảng-dạy môn phiên dịch tại
khoa NN&VH Anh - Mỹ như phần trên là sự kết hợp giữa học tập kinh nghiệm
của các chương trình đào tạo phiên dịch tiên tiến trên thế giới và áp dụng vào
điều kiện cụ thể tại trường ĐHNN-ĐHQGHN, có tính đến các đặc điểm về sinh viên,
cơ sở vật chất và đặc biệt là đội ngũ giáo viên hiện có trong Bộ môn Dịch và
khoa Anh. Chúng tôi mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của tất cả các
đồng nghiệp và sinh viên quan tâm tới việc nâng cao chất lượng đào tạo
biên-phiên dịch tại trường.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét