Thứ Bảy, 15 tháng 3, 2014

Phiên dịch làm quen với các loại giọng khác nhau

3.4. Các tình huống mô phỏng
       Thực hành của sinh viên trong các tình huống mô phỏng, dịch hội thoại và dịch ứng đoạn (dịch hội thảo), là một trong những yếu tố quan trọng nhất và do vậy nó chiếm một tỷ lệ lớn trong thời lượng của toàn môn học. Theo Ko (1996), khi dạy dịch hội thoại, chúng ta nên lôi kéo sinh viên tham gia càng nhiều càng tốt vào thực hành, các em có thể là người mô phỏng diễn giả hoặc người dịch, bởi vì chính sự tiến bộ về khả năng nói sẽ hỗ trợ cho các kỹ năng phiên dịch của sinh viên. Đóng vai, theo Adams và một số tác giả khác (1995), không chỉ giúp sinh viên tổng hợp kiến thức về chủ đề mà các em đang thực hiện vì nó đòi hỏi sinh viên phải sử dụng thành thạo và chính xác những gì họ đã được học, mà còn nêu lên bất kỳ vấn đề nào sinh viên có thể sẽ gặp phải trong khi diễn đạt ý, diễn thuyết và chuyển đổi ngôn ngữ. Ở các giai đoạn khác nhau trong quá trình học ở 2 năm cuối này, sinh viên sẽ được quay video các tình huống mô phỏng và sau đó thảo luận đánh giá về cuốn băng ghi hình đó trước lớp. Phần thảo luận đánh giá sẽ bao gồm nhiều khía cạnh khác nhau ví dụ như phần giới thiệu, các phần nói trực tiếp, cách giao tiếp của người dịch với người nghe bằng mắt, độ tin cậy, chính xác, v.v…
       Về tài liệu để luyện tập dịch ứng đoạn, Weber (1989b) nhấn mạnh nên sử dụng các bài nói và phần ghi âm các bài khoá được đọc hay được nói có tốc độ trung bình vì nếu tốc độ chậm quá có thể sẽ phản tác dụng. Chính vì vậy mà việc sử dụng cách ngữ liệu như các chương trình tiếng Anh đọc chậm của VOA chỉ nên coi là giải pháp tình thế cuối cùng nếu không thể có nguồn tiếng Anh nào khác.
       Thực hành các tình huống mô phỏng sẽ giúp chúng ta liên hệ giữa lý thuyết với thực hành. Theo Seleskovitch (1989), trong thực tế, không bao giờ có bài nói nào được dịch lại lần thứ hai, vì vậy việc luyện tập đi luyện tập lại một bài nói trên lớp sẽ không có nhiều tác dụng trừ khi chúng ta muốn kết hợp để phổ biến các nguyên tắc chung của dịch. Sau khi thực hành, giáo viên và sinh viên sẽ cùng thảo luận những kỹ năng cơ bản như cách chữa phần nghe hiểu, ghi chép trong từng đoạn, chữa cách sử dụng các phương tiện hỗ trợ về nhận thức, diễn đạt rõ ràng các ý, chuyển mã ở những phần có thể áp dụng được.
3.5. Ứng khẩu
       Makarova (1994) đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc dạy kĩ năng ứng khẩu trong đào tạo phiên dich và biên dịch. Trong các tình huống phiên dịch, người dịch không tránh khỏi  việc gặp những từ ngữ hay thậm chí những suy luận nằm ngoài dự tính về một từ ngữ quen thuộc. Vì vậy khả năng ứng khẩu được coi là một hình thức chuẩn bị ngoài ngôn ngữ cần thiết đối với người dịch và cũng là một trong các cách giúp người dịch kiểm soát sự căng thẳng. Ít nhất, người dịch nhờ ứng khẩu cũng cung cấp được cho người nghe một vài thông tin nào đó còn hơn phải dừng lại ở giữa câu để tìm đúng từ hay cách diễn đạt của từ hay cụm từ nào đó để rồi mất toàn bộ câu hoặc đoạn tiếp theo. Các bài tập như đọc lướt một bài viết để tìm thuật ngữ, đoán từ còn thiếu, làm việc với văn bản không có nghĩa hoặc các văn bản có sự thay đổi ngôn ngữ liên tục, ... sẽ giúp người dịch bù lấp những lỗ hổng không thể tránh khỏi trong kiến thức bằng trí thông minh và khả năng ứng khẩu thành thục.
3.6. Làm quen với các loại giọng khác nhau
       Theo Viezzi (1990), phiên dịch cần làm quen với một số loại giọng nói phổ biến nhất. Điều này đặc biệt đúng với trường hợp của Việt Nam vì ở đây, khách hàng có nhu cầu phiên dịch đến từ rất nhiều quốc gia trên thế giới, không chỉ từ những nước nói tiếng Anh, ví dụ như tiếng Anh của các nước trong khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái lan, Singapore, vv. Vì vậy, một yêu cầu đối với công tác đào tạo phiên dịch chính là “tính phổ quát ngôn ngữ” (Komissarov, 1988). Ví dụ, trong một cuộc hội thảo quốc tế tổ chức ở Việt Nam, người dịch đôi lúc sẽ gặp phải những bài nói với âm giọng rất nặng, mắc nhiều lỗi hoặc nói lỡ lời, hay những bài nói của các diễn giả tư duy theo ngôn ngữ bản xứ rồi dịch sang tiếng Anh. Được tiếp xúc thường xuyên với nhiều loại giọng nói khác nhau sẽ là trang bị vô cùng quý giá đối với nghề nghiệp trong tương lai của sinh viên. Về vấn đề này, nếu những người tham gia công tác  giảng dạy vừa là những phiên dịch chuyên nghiệp sẽ là điều vô cùng hữu ích bởi khi đi dịch giáo viên có thể xin phép ban tổ chức hội thảo cho ghi âm hoặc ghi hình lại cuộc hội thảo thật để dùng làm tư liệu giảng dạy cho sinh viên.
3.7. Gặp gỡ các phiên dịch chuyên nghiệp
       Những người đang làm công tác phiên dịch có thể được mời đến tham gia các cuộc thảo luận của sinh viên để cung cấp kiến thức về yêu cầu đa dạng của nghề trong nhiều lĩnh vực khác nhau, tập trung vào các vấn đề về lý thuyết và thực tế nghề nghiệp, ví dụ như tính công bằng, thái độ trung lập, cách làm chủ tình huống, v.v... Các khó khăn và kỹ năng cụ thể sẽ được xem xét, bàn luận và đánh giá trong các cuộc thảo luận như thế này. Thỉnh thoảng, khi đi dịch, các phiên dịch chuyên nghiệp có thể bố trí cho sinh viên tham dự hội thảo và quan sát công việc của người dịch.
4. Phương pháp giảng dạy
       Đối với môn học này, các phương pháp giảng dạy sẽ được sử dụng là: bài giảng, hướng dẫn phụ đạo, thảo luận, hội thảo, thực hành trong phòng thiết bị, các tình huống và hội thảo ba góc mô phỏng, các hoạt động nhóm nhỏ, v.v…
       Ví dụ, để tạo lập một tình huống thực hành sát với thực tế, thông thường giáo viên sẽ cố gắng để người dịch có được khán giả đích thực, tức là người chưa được nghe nội dung sắp được dịch. Khi giáo viên sử dụng một bài diễn văn hay hội thoại để sinh viên tập dịch trên lớp, cách thường làm vẫn là giáo viên, hoặc một sinh viên nói bằng ngôn ngữ nguồn, sau đó chỉ định một sinh viên dịch sáng ngôn ngữ đích. Làm như vậy có các nhược điểm là: thứ nhất, những sinh viên đóng vai khán giả sẽ được nghe cả bản nguồn và bản đích, tức là sự đón nhận bản dịch của họ không hoàn toàn ‘tự nhiên’ và gần với tình huống thực, khi mà người nghe phải dựa vào người phiên dịch để nắm được nội dung bản nguồn; thứ hai, bản thân người dịch cũng có cảm giác giống như mình đang bị người khác kiểm tra trình độ, chứ không phải là mình đang thực sự ‘truyền đạt lại’ thông điệp cho những khán giả không nghe và hiểu được cả 2 ngôn ngữ. Để khắc phục nhược điểm này, chúng tôi khuyến nghị phương pháp thường được áp dụng trong các trường dạy phiên dịch ở Châu Âu và Úc mà tôi đã có dịp tham dự. Thông thường, trước khi thể hiện văn bản nguồn, giáo viên sẽ chỉ định một hoặc hai sinh viên ra khỏi phòng, tức là khi diễn đạt xong văn bản nguồn (giáo viên nói hoặc bật băng), các sinh viên đó trở lại phòng và sẽ là những người nghe đích thực của người phiên dịch. Những khán giả ‘đích thực’ này sẽ phải chú ý lắng nghe và hoàn toàn phụ thuộc vào người phiên dịch để có thể nắm được nội dung của văn bản nguồn, giáo viên cũng có thể yêu cầu họ kể lại ‘câu chuyện’ mà người phiên dịch vừa ‘kể’ cho họ (giống như trò chơi ‘tam sao thất bản’). Các sinh viên còn lại sẽ đóng vai những người quan sát và cùng với giáo viên nhận xét về quá trình và chất lượng dịch. Ngoài ra việc khai thác các phòng luyện dịch ở B3 và A3 cũng rất hữu ích, đặc biệt là giúp sinh viên tự luyện độc lập theo sự chỉ dẫn của giáo viên.
5. Đánh giá
       Nên có sự kết hợp giữa đánh giá thường xuyên và kiểm tra hết học phần, ở tổ Dịch khoa Anh, chúng tôi hiện đang áp dụng tỷ lệ giữa đánh giá thường xuyên và thi là 40:60, tiến tới sẽ tiếp tục giảm dần tỷ  trọng của bài thi cuối cùng. Mục đích chính của bài kiểm tra này là đảm bảo rằng sinh viên sau mỗi học phần có thể tiến gần hơn tới các yêu cầu được coi là chuẩn mực nghề nghiệp. Để đạt được điều đó, trong bài thi sinh viên sẽ phải hoàn thành hai bài dịch nói từ tiếng Việt sang tiếng Anh và ngược lại. Tất cả các bài tập này sẽ kiểm tra các kỹ năng phiên dịch và kỹ năng tiếng nói chung của sinh viên trong các lĩnh vực chuyên ngành được giảng dạy trong khoá học.
       Trong quá trình làm việc sau này, những người phiên dịch có thể phải sử dụng tất cả các kỹ năng được đánh giá trong các bài thi hết học phần. Do đó, để đánh giá trình độ của sinh viên một cách thực tế, chúng tôi sắp xếp các bài thị theo các kỹ năng từ dễ đến khó, thường ở các học phần đầu, sinh viên sẽ dịch các đoạn hội thoại hoặc câu nói ngắn, đến các học phần cuối, sinh viên phải dịch một đoạn văn khá dài, với nội dung tương đối hoàn chỉnh, có thể tới 2-3 phút.
5.1. Mô tả
       Bài dịch ứng đoạn sẽ kiểm tra kỹ năng dịch nói của sinh viên trong bối cảnh một hội nghị. Bài tập này bao gồm hai bài dịch ngược và xuôi với 2 tình huống khác nhau, mỗi tình huống kéo dài 5 phút (kể cả phần dịch). Sinh viên sẽ được yêu cầu dịch một bài nói bằng tiếng Anh khoảng 250 từ (tương đương 3 phút) sang tiếng Việt và một bài có độ dài tương tự từ tiếng Việt sang tiếng Anh. Hai bài nói này sẽ được ghi âm từ trước và được phát qua hệ thống máy của phòng lab B3. Bài dịch của sinh viên sẽ được ghi âm và chấm sau đó. Ưu điểm của phương pháp này là có thể kiểm tra được nhiều sinh viên trong thời gian ngắn, đảm bảo sự công bằng và nhất quán trong đánh giá (so với việc sinh viên vào nhiều phòng thi khác nhau với nhiều giám khảo khác nhau). Nhược điểm lớn nhất của cách tổ chức thi này là không có sự giao tiếp thực giữa người dịch và người nghe (giám khảo).
       Hai bài nói này đều có văn phong trang trọng, yêu cầu dịch rõ ràng và chính xác. Sau khi nghe, sinh viên sẽ có một phút để xắp xếp ý và 2-3 phút để dịch lại một cách chính xác và đầy đủ.
5.2. Các tiêu chí đánh giá
       Sinh viên sẽ được đánh giá theo các tiêu chí sau:
·        Hoàn chỉnh: Sinh viên phải thể hiện được khả năng chuyển đổi một bài nói từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ kia một cách hoàn chỉnh, không làm mất hoặc sai lệch ý. Sinh viên phải có khả năng ghi chép để dịch lại bài nói và thái độ của tác giả một cách hoàn chỉnh (tức là phải thể hiện giọng điệu, phong cách.... của tác giả một cách trung thành)
·        Tính chính xác và phù hợp: Sinh viên phải thể hiện khả năng truyền đạt thông tin tốt, diễn đạt bằng cách khác nếu cần, và thể hiện sự hiểu biết và sử dụng ngôn ngữ phù hợp với văn cảnh.
·        Độ trôi chảy: Sinh viên sẽ phải phiên dịch một cách trôi chảy để người nghe cảm thấy bản dịch dễ hiểu và dễ nghe. Các yếu tố như cách phát âm và ngữ điệu, nhấn mạnh, …, cũng sẽ được đánh giá.
·        Từ vựng và cấu trúc: Sinh viên phải lựa chọn từ ngữ phù hợp trong cả hai ngôn ngữ. Sinh viên cũng phải sử dụng đúng những cấu trúc ngữ pháp trong cả hai ngôn ngữ để giữ được sự rõ ràng và nội dung của bản gốc.
·        Thuật ngữ: Sinh viên phải có khả năng sử dụng đúng những thuật ngữ phù hợp với lĩnh vực được kiểm tra.
6. Kết luận
       Quy trình giảng-dạy môn phiên dịch tại khoa NN&VH Anh - Mỹ như phần trên là sự kết hợp giữa học tập kinh nghiệm của các chương trình đào tạo phiên dịch tiên tiến trên thế giới và áp dụng vào điều kiện cụ thể tại trường ĐHNN-ĐHQGHN, có tính đến các đặc điểm về sinh viên, cơ sở vật chất và đặc biệt là đội ngũ giáo viên hiện có trong Bộ môn Dịch và khoa Anh. Chúng tôi mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của tất cả các đồng nghiệp và sinh viên quan tâm tới việc nâng cao chất lượng đào tạo biên-phiên dịch tại trường.

Nâng cao chất lượng giảng dạy môn phiên dịch

Nâng cao cht lưng giẢng dẠy môn phiên dỊch
trong khoa NN&VH Anh-MỸ, ĐHNN-ĐHQGHN

Th.s  Đỗ Minh Hoàng
Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Anh - M ỹ

1. Giới thiệu
       Bài viết này nhằm mục đích góp phần nâng cao chất lượng đào tạo phiên dịch tại khoa NN&VIỆT NAM Anh-Mỹ nói riêng và tại trường ĐHNN-ĐHQGHN nói chung. Trước hết chúng tôi sẽ điểm qua các lý do cho việc xây dựng chương trình khung cho các học phần Thực hành phiên dịch (dịch nói), để có thể cung cấp cho sinh viên những kiến thức và đặc biệt là kỹ năng cần thiết của người phiên dịch chuyên nghiệp. Chúng tôi cũng giới thiệu nội dung chính của các học phần, phương pháp tổ chức dạy-học và kiểm tra, đánh giá.
       Những người làm công tác giảng dạy cũng như hành nghề biên-phiên dịch đều hiểu rằng quá trình phiên dịch từ một thứ tiếng này sang một thứ tiếng khác là một quá trình phức tạp. Trên thực tế, như Viezzi (1990) đã nói, đó là một quá trình bao gồm các giai đoạn từ nghe hiểu đến chuyển đổi ngôn ngữ và phát ngôn lại. Yếu tố cần thiết để hiểu được bài nói được phân loại thành: khả năng ngôn ngữ, kiến thức xã hội và các yếu tố tâm lý quyết định giao tiếp, nhận thức về vai trò và chức năng của người phiên dịch và hiểu biết về các vấn đề xã hội có liên quan. Tương tự như vậy, dịch chính là sự tái tạo nghĩa câu và từ sao cho phù hợp ở một ngôn ngữ khác tuân theo các nguyên tắc về độ chính xác, sự hoàn chỉnh của bản dịch, khả năng linh hoạt và sự phù hợp về đặc tính ngôn ngữ. Để có được một phần dịch thành công thì người dịch phải nhận thức đầy đủ các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình hiểu và diễn đạt, chẳng hạn các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp như sự công bằng, tính trung lập, khách quan và rõ ràng. Hơn nữa, một phần dịch thành công phải được dựa trên tất cả các yếu tố nói trên vì đây là điều kiện cần thiết cho quá trình hiểu.
       Do vậy, tất cả các yếu tố cần thiết đối với ba giai đoạn nói trên cần được nghiên cứu và thực hành trong khuôn khổ môn học phiên dịch là điều hợp lý.
2. Mục đích
       Mục đích của môn học này là:
·                   Giới thiệu cho sinh viên về công việc của người phiên dịch và các hình thức dịch nói khác nhau: dịch ứng đoạn (bao gồm các kỹ năng ghi chép), nhìn-dịch, và dịch đồng thời (bao gồm nhắc lại có khoảng trễ và dịch thầm đồng thời);
·                   Phát triển khả năng phiên dịch của sinh viên thông qua luyện tập các bài tập song ngữ trong đó có một loạt các kỹ năng liên quan như tóm tắt bằng ngôn ngữ nguồn hoặc tóm tắt bằng ngôn ngữ đích và ghi chép nhanh để dịch;
·                   Nội dung về ngôn ngữ được bố trí theo các mô-đun (tương ứng với những mô-đun trong khối kiến thức về chuyên ngành, văn hoá) cần thiết nhất đối với đối với công việc của người phiên dịch, ví dụ như giáo dục, kinh tế, hội nhập, nông nghiệp, y tế, vv;
·                   Chú ý hơn tới tình huống dịch ba góc (dịch đối thoại) bên cạnh bối cảnh dịch hội thảo và cho sinh viên thực hành dịch ứng đoạn nhiều hơn dịch đồng thời;
·                   Tạo cơ hội cho sinh viên tiếp xúc với những phiên dịch chuyên nghiệp thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau; và
·                   Gắn lý thuyết với thực hành.


3. Nội dung
       Môn học sẽ phải bao gồm  một số lĩnh vực nội dung nhất định (về cả lý thuyết và thực hành phiên dịch) để đạt được những mục tiêu nói trên. Mặc dù cơ sở lý luận chung cho cả phiên dịch và biên dịch đã được xếp vào một môn học riêng nhưng trong nội dung môn học này chúng tôi vẫn thảo luận đôi nét về các khía cạnh lý thuyết có thể áp dụng được riêng đối với môn phiên dịch và gắn liền chúng với thực hành.
       Trong phần này, trước hết chúng tôi xin giới thiệu khái niệm phiên dịch và sự khác nhau giữa phiên dịch và biên dịch, đồng thời giới thiệu các hình thức phiên dịch và cách sử dụng các hình thức này. Weber (1989b) đã chia phiên dịch thành 5 giai đoạn: nghe, nghe tập trung, phân tích, ghi nhớ và/hoặc ghi chép, và phiên dịch/diễn thuyết và sức ép mà người phiên dịch phải đối mặt trong mỗi giai đoạn luyện tập các kỹ năng phiên dịch.
Theo Arjona-Tseng (1990), trong thời gian đầu, hướng dẫn của giáo viên cần tập trung vào việc cung cấp cho sinh viên các kiến thức cơ bản của quá trình giao tiếp, xử lý thông tin và luyện tập với một thời lượng thích hợp cách kiểm soát sự căng thẳng, giọng nói, cách diễn tả, tốc độ dịch và các kỹ năng phát biểu trước công chúng. Môn học này còn bao gồm cả các kỹ năng ghi chép và cách dịch nghĩa các phần ghi chép tóm tắt, viết tắt, tóm tắt thông tin, học thuật ngữ, nói nhại, sử dụng tai nghe, v.v…, và hiển nhiên không thể thiếu việc thực hành phiên dịch với thời lượng lớn trong các tình huống mô phỏng khác nhau. Các khía cạnh quan trọng nhất của môn học này sẽ được thảo luận sâu hơn ở những phần sau.
3.1. Thuật nhớ
       Theo Gentile (1991), yếu tố ngoài ngôn ngữ trước hết gắn liền với dịch nói chính là trí nhớ. Ông nhấn mạnh rằng luyện tập trí nhớ trong các chương trình phiên dịch/biên dịch là vô cùng quan trọng bởi lẽ đôi khi nguyên nhân của dịch không chính xác là do bị ngắt quãng trí nhớ. Do đó việc giới thiệu các thuật nhớ và cách sử dụng các thuật nhớ này trong phiên dịch cần được bao gồm trong chương trình. Luyện trí nhớ có thể được luyện tập thông qua việc hoàn thành các bài tập nói lại thông tin bằng một thứ tiếng hoặc cả hai thứ tiếng. “Bài tập gợi lại trí nhớ”, theo cách gọi của Liu (1990), là một ví dụ về hình thức này, nó đã được sử dụng trong GITIS của Đài Loan (Trường đạo tạo cao học chuyên ngành phiên dịch và biên dịch). Các bài tập như thế này là một bước khởi động chuẩn bị cho dịch ứng đoạn. Sinh viên phải nghe một mẩu tin ngắn, không được ghi chép và phải nhớ lại càng nhiều chi tiết càng tốt bằng cách nhắc lại hoặc viết ra mẩu tin đó. Lượng thông tin được tăng lên dần theo thời gian, từ 20 giây đến 2 phút. Độ khó cũng tăng lên, bắt từ các chuyện kế đơn giản đến các văn bản khó hơn có nhiều con số, thuật ngữ, nhiều tính từ và động từ, v.v… Theo Heynold (1987) và Weber (1989b), các bài tập này giúp sinh viên học cách vận dụng trí nhớ hiệu quả hơn, cách phát triển khả năng nghe hiểu có chọn lọc thông tin, cách diễn đạt ý lô-gíc, cách chia bài nói thành nhiều phần, ô trên trang giấy, và cách vận dụng khả năng phân tích để xây dựng lại bài nói từ các ý chính của bài.
       Các bài tập hữu ích khác áp dụng từ chương trình của Đại học Deakin là các bài tập tóm tắt bài nói bằng một thứ tiếng và bằng hai thứ tiếng. Tóm tắt bài nói bằng ngôn ngữ nguồn, tức là nắm bắt ý chính của một phát ngôn, là một giai đoạn trong quá trình phiên dịch. Kỹ năng này sẽ được dạy chính thức trong giai đoạn đầu của chương trình. Bài tập sẽ được tiến hành dưới dạng nói hoặc viết. Trong giaiđoạn đầu có thể tiến hành bằng tiếng Việt, sau đó sẽ chuyển sang các bài tập tóm tắt bằng tiếng Anh, với độ khó tăng dần.
       Tương tự như vậy, bài tập tóm tắt bằng ngôn ngữ đích có thể được tiến hành trong một lớp học bình thường hoặc trong phòng thiết bị. Một đoạn văn (được ghi âm từ trước hoặc đọc trực tiếp sẽ được phát đến tất cả các máy nghe của sinh viên. Khi đoạn văn được đọc và thu lại, sinh viên nghe và ghi tóm tắt. Sau đó, sinh viên có một vài phút để sắp xếp lại bài ghi chép vừa thực hiện và nói lại bằng một thứ tiếng khác, đồng thời ghi âm phần tóm tắt của mình vào băng. Giáo viên hướng dẫn cần kiểm tra càng nhiều sinh viên càng tốt trong khi sinh viên thực hiện phần ghi âm của mình. Sau khi kết thúc bài tập, sinh viên và giáo viên hướng dẫn cùng thảo luận và nhận xét về các vấn đề cũng như khó khăn hay lỗi thường gặp của sinh viên. Những lỗi này thường liên quan đến ngữ pháp, nội dung đoạn văn, từ vựng, ngữ nghĩa, văn phong, v.v… thời gian còn lại dùng vào việc tự chữa lỗi của sinh viên hoặc dịch ngược lại về thứ tiếng ban đầu rồi so sánh bài của sinh viên với bài gốc.
 3.2. Ghi ý chính để dịch
       Đây là kỹ năng đặc biệt quan trọng đối với công tác phiên dịch và được thiết kế tạo điều kiện dễ dàng hơn cho dịch ứng đoạn. Schweda-Nicholson (1990) giải thích rằng những thông tin ghi chép được sẽ hỗ trợ cả về mặt vật chất cũng như tâm lý chongười dịch, đảm bảo thông tin được chuyển tải đầy đủ, và hơn nữa còn đóng vai trò là xúc tác khơi dậy trí nhớ đối với những thông tin không thể dựa vào ngữ cảnh để suy và khó nhớ như ngày, số liệu, tên riêng, và giúp cho người dịch duy trì đúng trật tự bài nói của diễn giả, đảm bảo tính liền mạch của bài dịch.
       Một điều cần làm rõ ngay từ đầu là sự phân biệt giữa các hình thức ghi chép mà sinh viên vẫn thường thực hiện (ghi bài giảng, kể cả tốc ký) với ghi chép phục vụ mục đích dịch. Hai hình thức này khác nhau trước hết ở mục đích sử dụng, thời điểm sử dụng, và dẫn đến khác nhau ở nội dung và hình thức ghi chép (Jones, 1998)
       Theo Gentile (1990), môn học phiên dịch cần giới thiệu hệ thống kí hiệu hay mối liên hệ giữa phần trình bày của một thông điệp trong bố cục phần ghi ý chính  để dùng cho dịch ứng đoạn. Sinh viên sẽ được thực hành ghi ý chính nhiều hơn, chủ yếu dựa vào tài liệu thuộc các lĩnh vực ngôn ngữ được bao gồm trong những mô-đun tương ứng. Mục đích cuối cùng của việc làm này là giúp sinh viên có khả năng phát triển một hệ thống kí kiệu ghi chép của chính họ.
       Về các kỹ thuật ghi chép, Alexieva (1994), Seleskovitch (1989) và Schweda-Nicholson (1990) đã đưa ra các gợi ý hết sức tỉ mỉ và hữu ích về cách lựa chọn kí hiệu và ngôn ngữ để ghi chép: giữa kí hiệu ngôn ngữ và kí hiệu phi ngôn ngữ, nên ghi chép bằng ngôn ngữ nguồn hay ngôn ngữ đích. Chẳng hạn, Schweda-Nicholson (1990) và Seleskovitch (1989) đã gợi ý rằng chúng ta nên ghi chép bằng ngôn ngữ đích bởi lẽ ngay trong phần ghi chép người dịch đã hoàn thành phần nào bài dịch và với phần ghi chép đã được dịch sẵn, nhiệm vụ dịch sẽ thuận lợi hơn rất nhiều. Theo Seleskovitch (1989), phần ghi chép của người dịch dài hay ngắn không tương ứng với số từ diễn giả nói mà tương ứng với số ý mà người dịch nắm bắt được, những từ ghi chép lại này chính là dấu hiệu nhắc ý chứ không phải là phần ghi lại toàn bộ bài nói. Phần ghi chép càng ít từ thì khả năng diễn đạt và phát triển ý càng cao. Một số kỹ năng có liên quan đến nội dung này bao gồm việc sử dụng từ viết tắt và các biểu tượng phi ngôn ngữ cụ thể, ví dụ như mũi tên, dấu gạch chân (nhấn mạnh) và các kí hiệu toán học, và cách tổ chức trang giấy khi ghi chép (khoảng cách, cách bố trí).
       Bài tập loại này thường được tiến hành trong các buổi học theo phương pháp luyện tập cá nhân. Đôi khi có thể yêu cầu sinh viên ghi chép thông tin lên bảng để cả lớp thảo luận và đánh giá.
3.3. Trình bày và diễn thuyết trước công chúng
       Cũng trong môn học này, chúng tôi xin nói về tầm quan trọng của các kỹ năng phát âm rõ ràng cũng như khả năng diễn thuyết trước công chúng đối với công việc của người phiên dịch, đồng thời giới thiệu các bài tập thực hành cho sinh viên. Các lĩnh vực về nghiên cứu ngôn ngữ cử chỉ và hành động (các yếu tố gần ngôn ngữ) cũng rất hữu ích cho việc thảo luận về sự sắp xếp không gian trong một tình huống phiên dịch (Gentile, 1991). Hơn nữa, do người dịch thường được đánh giá dựa trên chất lượng sản phẩm lời nói của họ nên theo Viezzi (1990), các bài tập thuyết trình là một công cụ tốt để nâng cao khả năng nói của sinh viên. Bên cạnh đó, theo Weber (1989b), các kỹ năng diễn thuyết trước công chúng chính là chiếc “phao an toàn” của người phiên dịch khi gặp phải tình huống khó khăn, bởi vì người dịch có thể chú ý và giải quyết hết những vấn đề trong phạm vi khả năng của mình và thậm chí còn có thể che giấu được những vấn đề đó trong phần dịch. Để phát triển các kỹ năng này, sinh viên sẽ học cách diễn thuyết trước đám đông và tăng cường khả năng linh hoạt ngôn ngữ của mình, bắt đầu từ việc đọc các bài viết đến việc diễn đạt lại từ tiếng Anh sang tiếng Anh, chuyển tải đầy đủ thông điệp của bài viết gốc bằng việc thay đổi cách dùng từ và cấu trúc. Loại bài tập này sẽ bổ trợ cho các bài tập nghe-nhắc lại và tóm tắt đã nói ở trên.

Các biện pháp nâng cao khả năng nghe hiểu trong phiên dịch 03

6. Gắn kết ý nghĩa thông báo với các từ có tương đương trong ngôn ngữ đích

Học viên nắm rất nhanh việc nhận ra những từ đơn nghĩa như những con số chỉ số lượng, tên riêng, thuật ngữ kỹ thuật, những từ không cần phải diễn dịch và có thể chuyển mã được từ thứ tiếng này sang thứ tiếng khác nhờ những từ tương đương sẵn có trong ngôn ngữ dịch. Ngay từ đầu, học viên cần được nhắc nhở để ghi chép những từ như vậy trong dịch ứng đoạn và sau đó lập các phiếu thuật ngữ phục vụ cho công tác biên-phiên dịch trong một lĩnh vực cụ thể.


Có thể dịch chuyển mã các thuật ngữ, song không vì thế mà quan niệm rằng không cần hiểu chúng. Dù thế nào thì chúng cũng giữ vai trò nhất định khi được đặt trong câu - điều này được chỉ ra qua ví dụ ở trên về các con số - việc không hiểu chúng có thể ảnh hưởng đến việc hiểu nghĩa tổng thể của cả đoạn. Ngoài ra, do đặc thù của ngôn ngữ nói, việc hiểu chức năng, bản chất của một sự vật được biểu thị bằng khái niệm thường đơn giản hơn là nhận ra một cách rõ ràng cấu trúc ngữ âm của chính bản thân các thuật ngữ đó, ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết khác nhau ở khía cạnh này. Người biên dịch thì có thời gian tra cứu để hiểu thuật ngữ trước khi dịch. Còn những học viên phiên dịch thì phải học cách chỉ cần nghe một lần là hiểu được và chỉ cần dịch một lần là xong những từ có thể chuyển mã được [5].
Từ tương đương thoả đáng chỉ quan trọng sau này, nhưng học viên cần học cách dựa vào việc phân tích ngôn cảnh để khắc phục hạn chế trong khả năng nghe hoặc những khuyết thiếu trong vốn thuật ngữ của mình. Nhiệm vụ quan trọng cần được đề ra ngay từ những bài học dịch đầu tiên là tìm ra sự khác biệt giữa ý nghĩa cần nắm bắt với những đơn vị ngôn ngữ chuyển tải ý nghĩa đó, và thường xuyên phải trừu tượng hóa vỏ ngôn ngữ của các đơn vị đó đi.

7. Trích xuất các ý cấu thành của thông tin

Việc tìm ra mối liên hệ giữa các sự việc, mối quan hệ nhân quả cũng như mối liên hệ giữa các ý là rất quan trọng và cần thiết. Các học viên cần phải học cách phân biệt đâu là ý chính, đâu là những ý phụ và những mối quan hệ gắn kết chúng với nhau. Điều này là quan trọng vì trong một loạt các dữ liệu tiếp nhận được, người học cần học cách phân biệt rõ ý nghĩa của mỗi câu và mối liên kết ý đó với các ý khác trong toàn bộ ngôn bản. Chẳng hạn như trong ngôn bản sau, việc trích xuất các ý cấu thành là điều không thể thiếu nếu người đọc muốn hiểu một cách thấu đáo nội dung mà ngôn bản chuyển tải.
La consistance du réseau routier national
Le réseau routier national est celui qui est placé sous la responsabilité de l'Etat. Il est constitué des routes nationales et des autoroutes, concédées et non-concédées. Le réseau routier national comporte, à l'issue de la nouvelle étape de décentralisation, près de 20 000 km de voies: 11.000 km d'autoroutes, dont 8.200 km sont concédées à des sociétés concessionnaires sous contrat avec l'Etat, et 9.000 km de routes nationales.
La volonté du législateur a été de maintenir sous la responsabilité de l'Etat le seul réseau principal structurant, essentiel pour l'économie du pays. Ce réseau est notamment constitué des autoroutes et des routes qui accueillent les trafics à longue distance, qui assurent la desserte des grandes métropoles régionales et des grands pôles économiques.
Le transfert récent d'environ 18.000 km de routes nationales aux départements (qui sont donc devenues routes départementales) part du constat qu'avec la constitution ces trente dernières années d'un réseau structurant d'autoroutes et de grandes liaisons principales, bon nombre de routes nationales ont perdu leur fonction d'écoulement du trafic de transit. Le réseau autoroutier compte en effet aujourd'hui près de 11.000 km d'autoroutes en service alors que sa longueur était inférieure à 1.000 km en 1970.
Les routes nationales qui ont été transférées aux départements présentaient un intérêt local marqué. Elles ont de grandes similitudes avec les routes départementales, tant en termes d'usage qu'en termes de caractéristiques physiques.



Người đọc sẽ phải trích xuất được các ý chính sau :
1. Cơ cấu của mạng lưới giao thông đường bộ quốc gia Pháp
2. Lý do của tình trạng hiện nay của giao thông đường bộ quốc gia Pháp
Với ý chính thứ nhất, người đọc cần trích xuất được các ý phụ sau :
1.a. Vấn đề quản lý mạng lưới giao thông đường bộ quốc gia Pháp
1.b. Cơ cấu của mạng lưới này (loại đường và tổng chiều dài)
1.c. Mạng lưới này là kết quả của đợt phân cấp quản lý mới đây
Với ý chính thứ hai, người đọc cần trích xuất được các ý phụ sau :
2.a. 30 năm qua ở Pháp đã hình thành nên một mạng lưới đường cao tốc và đường quốc lộ
2.b. Vì lý do trên mà một số tuyến quốc lộ mất đi chức năng đảm bảo giao thông liên tỉnh
2.c. Khi đó, những tuyến quốc lộ này chỉ còn phục vụ chủ yếu nhu cầu của các địa phương
2.d. Vả lại những tuyến quốc lộ này có nhiều nét tương đồng với tỉnh lộ
2.e. Vì vậy chủ trương của các nhà lập pháp là chuyển giao những tuyến đường này cho các tỉnh quản lý và chúng đã trở thành tỉnh lộ
Và đó cũng chính là lời giải thích cho câu hỏi "Tại sao mạng lưới giao thông đường bộ quốc gia của Pháp hiện nay chỉ có tổng chiều dài là 20.000 km."
Đây là một ví dụ về thao tác trích xuất ý cấu thành ý nghĩa của ngôn bản.


8. Kích hoạt các ký ức thụ động tiềm ẩn

Giáo viên sẽ tiếp tục cho học viên làm các phân tích tương tự như vậy đối với những đoạn dài hơn và không yêu cầu là phải nói lại một cách hoàn toàn đầy đủ. Trước tiên, học viên sẽ tóm tắt ngắn gọn các ý chính, sau đó giáo viên giúp học viên bằng cách đặt câu hỏi cho họ. Chúng ta biết rằng khả năng ghi nhớ các thông tin mà con người thu nhận được lớn hơn khả năng khôi phục lại nó một cách tức thì. Nhưng khi có một dấu  hiệu kích thích phù  hợp thì những nội dung thông tin đã được lưu giữ trong bộ nhớ sẽ được tái hiện. Người ta sử dụng khả năng ghi nhớ các sự kiện này để từ chỗ nắm được các ý chính để đi đến sự tái tạo lại một cách đầy đủ nội dung thông tin của ngôn bản mà không bị vướng vào cái bẫy dịch ngôn ngữ, dịch chuyển mã, hay còn gọi là dịch bám từ.
Việc gợi lại những ký ức tiềm ẩn có vai trò quan trọng trong phiên dịch bởi vì tác giả của ngôn bản thường trình bày nội dung giao tiếp dựa trên những kinh nghiệm, những kiến thức mà họ cho rằng người tiếp nhận ngôn bản đã có từ trước (kiến thức nền) và những thông tin mới tiếp nhận được về ngôn cảnh và ngôn bản. Người học nghề dịch sẽ phải học cách tìm ra những hàm ý thường có rất nhiều trong ngôn bản.
Để chỉ cho học viên thấy tầm quan trọng của mối liên hệ giữa các ý ẩn với những nội dung thông tin đã được trình bày trước đó và dạy cho học viên biết cách sử dụng những ký ức tiềm ẩn giúp cho việc dịch dễ dàng hơn, cần phải cho họ nghe những đoạn dài hơn 3 phút để họ có thể tiếp cận được với ý nghĩa tổng thể của cả đoạn. Sau đó, người học sẽ phải đưa ra một câu tóm tắt về đoạn văn, giáo viên hỗ trợ bằng cách đặt câu hỏi về mỗi ý trọn vẹn nằm trong tổng thể bài chứ không phải nằm trong từng câu chữ riêng lẻ.


9. Phản ứng với thông tin

Để hiểu đầy đủ một thông tin mà không chỉ dựa vào những yếu tố ngôn ngữ cấu thành câu, người dịch phải nhận biết được mối liên hệ giữa thông tin này với thực tại khách quan chứa đựng trong ngôn bản. Khi người tiếp nhận không hề có phản ứng gì với nội dung thông tin của ngôn bản, thì ngôn bản đó mãi mãi chỉ là những dấu hiệu âm thanh vô nghĩa. Ngược lại, nếu người tiếp nhận mà có phản ứng tích cực với thông tin thì ngôn bản sẽ trở nên sống động với đầy đủ sắc thái ý nghĩa của nó.
Cũng cần lưu ý rằng những phát ngôn không có liên quan lắm tới mối quan tâm tức thì ở người tiếp nhận thì ít có khả năng được kết nối với các nội dung thông tin mà người ta đã có được từ trước và chắc chắn là người tiếp nhận có rất ít phản ứng với những phát ngôn đó. Vì vậy, để có thể lưu giữ được thông tin vừa tiếp nhận trong bộ nhớ, người học sẽ phải biết cách kết hợp tối đa những thông tin mà họ vừa mới tiếp nhận với những gì đã nắm bắt được từ trước, nói cách khác là khi tiếp nhận thông tin mới họ phải biết liên tưởng tới những thông tin đã tích lũy được từ trước. Đây chính là các phản ứng cần thiết ở người dịch.
Để luyện kỹ năng này, người ta có thể sử dụng những thông tin có tính thời sự để giúp cho người học dễ dàng liên tưởng giữa những gì vừa nghe với những gì đã tích lũy từ trước. Cho họ nghe từng đoạn rồi yêu cầu họ thử liên hệ nội dung vừa nghe với những thông tin khác mà họ đã biết. Chẳng hạn như sau khi được nghe đoạn văn
"Le réseau routier national est celui qui est placé sous la responsabilité de l'Etat. Il est constitué des routes nationales et des autoroutes, concédées et non-concédées.",
người học sẽ phải có phản ứng kiểu như tự nhủ: "Đoạn này giới thiệu về công tác quản lý và cơ cấu của mạng lưới giao thông đường bộ.".
Hoặc với đoạn văn sau :
"La volonté du législateur a été de …, tant en termes d'usage qu'en termes de caractéristiques physiques."
thì người học phải có nhận xét là "À, đoạn này giải thích tại sao hệ thống giao thông đường bộ của Pháp lại chỉ có 20000 km.".
Còn sau khi nghe đoạn "Il est des pays qui parlent au cœur des Français. Le Vietnam est certainement l'un des premiers d'entre eux. L'histoire nous a unis puis séparés. Nos relations ont été complexes, parfois dramatiques, semées de fascination et de méfiance réciproques, mais jamais, jamais d'indifférence." (trích từ Bài phát biểu của Bộ trưởng Bộ kinh tế Pháp tại phiên khai mạc của Hội đồng cấp cao về phát triển hợp tác kinh tế Pháp - Việt Nam - HCDCE) thì người học phải có phản ứng kiểu như : "Đây là phần nói về lịch sử quan hệ giữa hai nước."


Tóm lại, trên đây là một số kỹ năng và thao tác cơ bản mà người làm công tác phiên dịch phải được rèn luyện để có thể tiến hành nhận biết và phân tích thông tin trước khi bắt tay vào dịch một ngôn bản nào đó. Các kỹ năng này phải được bồi dưỡng ngay từ rất sớm trong quá trình đào tạo nghề dịch./.