2. Nâng cao tốc độ phân tích thông tin
Ngay khi học
viên đã nắm được sự khác nhau giữa việc nghe từ và nghe nghĩa, người ta sẽ bỏ
các văn bản viết để có thể tiếp cận với ngôn ngữ nói đích thực vì các yếu tố
ngôn điệu cũng có tác dụng chuyển tải ý nghĩa của một phát ngôn tự nhiên.
Mục
đích cuối cùng của quá trình đào tạo là giúp học viên có khả năng phiên dịch với
tốc độ của lời nói. Để đạt được tốc độ này, rõ ràng là không thể bắt đầu bằng
cách cho học viên nghe những bài phát biểu chậm rãi rồi dần dần tăng tốc độ, và
cuối cùng tiến tới nhịp độ bình thường của lời nói. Trái lại, cách phát ngôn chậm
hơn tốc độ bình thường lại gây khó khăn cho việc nắm bắt ý; các câu nói quá chậm
khiến cho từ bị chia cắt khỏi ngôn cảnh bình thường, khiến người nghe chỉ chú ý
vào nghĩa ngôn ngữ của từng từ đơn lẻ. Trong khi đó, tốc độ bình thường của lời
nói sẽ làm cho từ hoà nhập vào các tập hợp lớn hơn để sinh ra nghĩa.
Học viên được
giao nhiệm vụ chuẩn bị các bài phát biểu và tập trình bày các bài viết "bằng ngôn ngữ nói". Giáo viên có
thể cho học viên nghe các cuộc phỏng vấn ghi lại từ các chương trình vô tuyến
hay ở đài phát thanh với tốc độ phát ngôn bình thường. Mục đích không phải là
tăng tốc độ nói mà là tăng tốc độ phân tích thông tin sao cho đến cuối khóa
học, việc phân tích thông tin phải hoàn thành ngay khi diễn giả dừng lời - đối
với trường hợp dịch ứng đoạn - hoặc dần dần theo tiến trình của bài phát biểu –
trong trường hợp dịch song hành (interprétation
simultanée). Những người học ngoại ngữ có thói quen dành quá nhiều thời
gian cho việc phân tích một bài viết và được rèn luyện để dịch những bài dài
khoảng 20 dòng trong thời gian hai giờ thì phải luyện cách vừa nghe vừa phân
tích. Việc trình bày của họ sẽ trở nên tự nhiên, như thói quen của ngôn ngữ
nói, không phải trau chuốt như ngôn ngữ viết, song việc phân tích một bài phát
biểu bằng lời cũng phải đạt chất lượng tương đương với chất lượng của việc phân
tích một bài viết. Khi học viên đã
biết thế nào là nghe nghĩa, họ sẽ được nghe các bài nói bao gồm nhiều đoạn ngắn
để sau đó làm nhanh một bài tổng hợp.
3. Hình dung ra nội dung của phát ngôn
Một
trong những phương cách có thể giúp học viên tập trung vào nghĩa của phát ngôn
mà không mất thời gian vào việc hiểu nghĩa của từng từ là hình dung cụ thể vấn
đề được nhắc đến. Tưởng tượng ra được một vật hoặc những khía cạnh khác nhau của
một sự kiện đang được miêu tả tức là nghe được nghĩa của sự vật hoặc hiện tượng.
Dựa vào sự tưởng tượng, học viên sẽ ít tập trung vào câu chữ mà sẽ diễn đạt nhờ
vào những gì mà họ hình dung về sự việc.
Việc gợi ra
những hình ảnh gắn kết với nhau bằng lập luận đơn giản giúp cho việc nhận biết
thông tin chính xác hơn và việc diễn đạt
cũng dễ dàng hơn. Ở giai đoạn đầu, do gặp nhiều khó khăn, học viên có thể lúng
túng trong việc tìm từ để diễn đạt.
Chúng
ta sẽ chỉ ra tất cả những đoạn phải được "nhìn thấy" trong loại bài
này, nhưng không nhất thiết phải nhấn mạnh những lỗi sai xuất phát vì những lý
do khác. Những lỗi này sẽ được giải quyết riêng sau này, khi học viên đã bớt tập
trung vào vỏ ngôn ngữ và ghi nhớ từng từ.
Ví dụ về một lỗi chưa phải sửa ngay : bản gốc ghi là "Everybody wants
to be the first to send in relief".
Ở đây đang đề cập đến việc các nước phương Tây muốn thông qua viện trợ để tăng
cường ảnh hưởng tại các nước thế giới thứ ba. Hàm ngôn này khá phức tạp khi mà
học viên còn đang ở giai đoạn gộp những ý tưởng nguyên mẫu (viện trợ-tiếp nhận).
Học viên sẽ dịch như sau "Người nào cũng muốn được nhận viện trợ đầu
tiên." Lỗi này có thể được thông cảm ở giai đoạn bắt đầu học dịch. Những
lỗi như vậy sẽ được chỉ ra cho học viên nhưng họ sẽ không bị đánh giá về năng lực.
Dạng
bài tập luyện khả năng hình dung cần được làm nhiều vì nghe câu chữ thay vì
hình dung ra điều được chuyển tải bằng câu chữ đã trở thành một thói quen ở học
viên. Ở giai đoạn đầu rất khó giúp học viên hình dung để qua đó giúp họ quên đi
câu chữ. Chúng ta hãy xem ví dụ sau đây khi một số học viên người Pháp dịch một
đoạn thông tin nói về những trại tị nạn ở Êthiopia.
"Many
people are too weak to be able to cat and that means that they have had to
install a system called "wet foeding"
with grains and mash and it's mixed with water and it gurgles down casier,
mixed with water".
Học
viên tìm mọi cách có được từ tương đương trong tiếng Pháp để dịch cụm từ "Wet
feeding". Khó có thể làm cho học viên tìm ra ý tổng quát của cả đoạn. Ở
ví dụ này, nếu được hình dung thì vấn đề sẽ như sau : người dân quá yếu nên
không thể ăn thức ăn rắn, cần giúp họ dùng những đồ ăn lỏng, các loại cháo dễ
nuốt hơn thức ăn rắn. Mặt khác, câu "Children
have forgotten how to eat, completely forgotten how to eat" có thể sẽ
khiến người nghe nghĩ đến hình ảnh một đứa trẻ da bọc xương, bụng ỏng, đang ngồi
đó với cái nhìn ngây dại vốn đã quá quen thuộc với chúng ta qua những bức ảnh.
Với thói quen bám từ, câu trên sẽ được dịch một cách đáng tiếc như "Bọn trẻ đã quên cách phải ăn uống như thế
nào" (Chẳng lẽ chúng quên cả những thói quen cơ bản hay sao?).
4. Xác định các phân đoạn của phát ngôn
Tính
thời gian, ghi nhớ các giai đoạn kế tiếp nhau trong câu chuyện là một kỹ thuật
khác cho phép nắm được ý nghĩa phát ngôn, và qua đó giúp học viên tránh nghe
câu chữ, tránh tìm từ tương đương ngôn ngữ. Bài viết về Hồng Kông trên đây có
thể được chia thành các đoạn như sau: Nghị viện Anh xem xét hiệp định về Hồng
Kông; chuyến thăm Bắc Kinh của Bà Thatcher; giải quyết số phận của Hồng Kông;
pháp luật Trung Quốc,
người Anh rời Trung Quốc;
trở lại phần đầu của chuỗi sự kiện; sự chấp thuận của người dân Hồng Kông cần
được trình lên Nghị viện Anh; khó khăn của cuộc điều tra; một số giải pháp; dù
sao một cuộc thăm dò dư luận cũng cho ra ý tưởng.
Cách
phân tích theo đoạn này dạy cho học viên cách lựa chọn thông tin theo một tiêu
chí cụ thể. Học viên có thể đếm trên đầu ngón tay những sự kiện diễn ra (tìm ra
9 hay chỉ 6, 7 sự kiện không phải là điều quan trọng). Họ sẽ biết cách cần phải
nghe gì và vô hình trung đã tự hình thành cho mình một cách ghi chép phù hợp. Ở
thời kỳ đầu của quá trình đào tạo, có thể cho học viên biết trước nội dung chủ
đạo xuyên suốt bài tập nghe.
à hiểu các con số
Không
giống các phát ngôn chứa đựng lập luận, hình ảnh, ý, mà người ta không nhất thiết
phải chú ý nghe nhưng vẫn nắm được, các con số phải được lưu ý đặc biệt để có
thể ghi chép khi dịch ứng đoạn hoặc để nói lại một cách chính xác trong dịch
song hành. Ở giai đoạn đầu, điều đáng quan tâm không phải là độ chính xác tuyệt
đối, mà chỉ cần học viên nắm được khoảng tương đối vì đây là yếu tố quan trọng
nhất đảm bảo tính chặt chẽ của bài. Xem ví dụ sau :
"Asia ‑ the biggest continent on earth occupies
26 % of the global surface and supports some 58 % of the total world
population. Of the 71 million childbirths each year, 46 million take place in Asia. It is a continent of extremes as is evident from a
sample of following statistics..."
và bản dịch theo đúng yêu cầu
là:
"Châu Á là châu lục
lớn nhất Thế giới, chiếm gần 1/4 diện tích và hơn một nửa dân số toàn cầu. Số
trẻ sinh ra tại châu lục này cũng chiếm quá nửa số trẻ em sinh ra trên toàn thế
giới."
Như vậy các con số đã được
"hiểu", sau này khi được kết hợp với kỹ năng ghi chép thì các con số có
thể được chuyển tải một cách chính xác. Với sự chỉ dẫn của giảng viên, một khi
tập được thói quen nắm bắt các con số kiểu như vậy, học viên sẽ không còn bám từng từ trong khi dịch như khi
mới học nữa, mặc dù chưa được thuần thục và chính xác trong diễn đạt như sau
này. Và ở đây, khoá học tiếp tục theo đuổi hai mục tiêu: học nghe các con số một
cách chăm chú để phục vụ cho công tác sau này, học cách tập trung vào một số
cái biểu đạt của ngôn bản để giúp người nghe nắm được thông tin và không để vỏ
ngôn ngữ gây trở ngại cho quá trình nắm bắt thông tin.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét