6. Gắn kết ý nghĩa thông báo với các từ có tương đương trong ngôn ngữ đích
Học viên nắm rất nhanh việc
nhận ra những từ đơn nghĩa như những con số chỉ số lượng, tên riêng, thuật ngữ
kỹ thuật, những từ không cần phải diễn dịch và có thể chuyển mã được từ thứ tiếng
này sang thứ tiếng khác nhờ những từ tương đương sẵn có trong ngôn ngữ dịch.
Ngay từ đầu, học viên cần được nhắc nhở để ghi chép những từ như vậy trong dịch
ứng đoạn và sau đó lập các phiếu thuật ngữ phục vụ cho công tác biên-phiên dịch
trong một lĩnh vực cụ thể.
Có thể dịch chuyển mã các thuật
ngữ, song không vì thế mà quan niệm rằng không cần hiểu chúng. Dù thế nào thì
chúng cũng giữ vai trò nhất định khi được đặt trong câu - điều này được chỉ ra
qua ví dụ ở trên về các con số - việc không hiểu chúng có thể ảnh hưởng đến việc
hiểu nghĩa tổng thể của cả đoạn. Ngoài ra, do đặc thù của ngôn ngữ nói, việc hiểu
chức năng, bản chất của một sự vật được biểu thị bằng khái niệm thường đơn giản
hơn là nhận ra một cách rõ ràng cấu trúc ngữ âm của chính bản thân các thuật ngữ
đó, ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết khác nhau ở khía cạnh này. Người biên dịch
thì có thời gian tra cứu để hiểu thuật ngữ trước khi dịch. Còn những học viên
phiên dịch thì phải học cách chỉ cần nghe một lần là hiểu được và chỉ cần dịch
một lần là xong những từ có thể chuyển mã được [5].
Từ tương đương thoả đáng chỉ
quan trọng sau này, nhưng học viên cần học cách dựa vào việc phân tích ngôn cảnh
để khắc phục hạn chế trong khả năng nghe hoặc những khuyết thiếu trong vốn thuật
ngữ của mình. Nhiệm vụ quan trọng cần được đề ra ngay từ những bài học dịch đầu
tiên là tìm ra sự khác biệt giữa ý nghĩa cần nắm bắt với những đơn vị ngôn ngữ
chuyển tải ý nghĩa đó, và thường xuyên phải trừu tượng hóa vỏ ngôn ngữ của các
đơn vị đó đi.
7. Trích xuất các ý cấu thành của thông tin
Việc tìm ra mối liên hệ giữa các sự việc, mối quan hệ nhân quả cũng như
mối liên hệ giữa các ý là rất quan trọng và cần thiết. Các học viên cần phải học
cách phân biệt đâu là ý chính, đâu là những ý phụ và những mối quan hệ gắn kết
chúng với nhau. Điều này là quan trọng vì trong một loạt các dữ liệu tiếp nhận
được, người học cần học cách phân biệt rõ ý nghĩa của mỗi câu và mối liên kết ý
đó với các ý khác trong toàn bộ ngôn bản. Chẳng hạn như trong ngôn bản sau, việc
trích xuất các ý cấu thành là điều không thể thiếu nếu người đọc muốn hiểu một
cách thấu đáo nội dung mà ngôn bản chuyển tải.
La
consistance du réseau routier national
Le réseau routier national
est celui qui est placé sous la responsabilité de l'Etat. Il est constitué des
routes nationales et des autoroutes, concédées et non-concédées. Le réseau
routier national comporte, à l'issue de la nouvelle étape de décentralisation,
près de 20 000 km
de voies: 11.000 km
d'autoroutes, dont 8.200 km
sont concédées à des sociétés concessionnaires sous contrat avec l'Etat, et 9.000 km de routes
nationales.
La volonté du législateur a
été de maintenir sous la responsabilité de l'Etat le seul réseau principal
structurant, essentiel pour l'économie du pays. Ce réseau est notamment
constitué des autoroutes et des routes qui accueillent les trafics à longue
distance, qui assurent la desserte des grandes métropoles régionales et des
grands pôles économiques.
Le transfert récent
d'environ 18.000 km
de routes nationales aux départements (qui sont donc devenues routes départementales)
part du constat qu'avec la constitution ces trente dernières années d'un réseau
structurant d'autoroutes et de grandes liaisons principales, bon nombre de
routes nationales ont perdu leur fonction d'écoulement du trafic de transit. Le
réseau autoroutier compte en effet aujourd'hui près de 11.000 km d'autoroutes en
service alors que sa longueur était inférieure à 1.000 km en 1970.
Les routes nationales qui
ont été transférées aux départements présentaient un intérêt local marqué.
Elles ont de grandes similitudes avec les routes départementales, tant en
termes d'usage qu'en termes de caractéristiques physiques.
Người đọc sẽ phải trích xuất được các ý chính sau :
1. Cơ cấu của mạng lưới giao thông đường bộ quốc gia Pháp
2. Lý do của tình trạng hiện nay của giao thông đường bộ quốc gia Pháp
Với ý chính thứ nhất, người đọc cần trích xuất được các ý phụ sau :
1.a. Vấn đề quản lý mạng lưới giao thông đường bộ quốc gia Pháp
1.b. Cơ cấu của mạng lưới này (loại đường và tổng chiều dài)
1.c. Mạng lưới này là kết quả của đợt phân cấp quản lý mới đây
Với ý chính thứ hai, người đọc cần trích xuất được các ý phụ sau :
2.a. 30 năm qua ở Pháp đã hình thành nên một mạng lưới đường cao tốc và
đường quốc lộ
2.b. Vì lý do trên mà một số tuyến quốc lộ mất đi chức năng đảm bảo
giao thông liên tỉnh
2.c. Khi đó, những tuyến quốc lộ này chỉ còn phục vụ chủ yếu nhu cầu của
các địa phương
2.d. Vả lại những tuyến quốc lộ này có nhiều nét tương đồng với tỉnh lộ
2.e. Vì vậy chủ trương của các nhà lập pháp là chuyển giao những tuyến
đường này cho các tỉnh quản lý và chúng đã trở thành tỉnh lộ
Và đó cũng chính là lời giải thích cho câu hỏi "Tại sao mạng lưới
giao thông đường bộ quốc gia của Pháp hiện nay chỉ có tổng chiều dài là 20.000 km."
8. Kích hoạt các ký ức thụ động tiềm ẩn
Giáo viên sẽ tiếp tục cho học
viên làm các phân tích tương tự như vậy đối với những đoạn dài hơn và không yêu
cầu là phải nói lại một cách hoàn toàn đầy đủ. Trước tiên, học viên sẽ tóm tắt
ngắn gọn các ý chính, sau đó giáo viên giúp học viên bằng cách đặt câu hỏi cho
họ. Chúng ta biết rằng khả năng ghi nhớ các thông tin mà con người thu nhận được
lớn hơn khả năng khôi phục lại nó một cách tức thì. Nhưng khi có một dấu hiệu kích thích phù hợp thì những nội dung thông tin đã được lưu
giữ trong bộ nhớ sẽ được tái hiện. Người ta sử dụng khả năng ghi nhớ các sự kiện
này để từ chỗ nắm được các ý chính để đi đến sự tái tạo lại một cách đầy đủ nội
dung thông tin của ngôn bản mà không bị vướng vào cái bẫy dịch ngôn ngữ, dịch
chuyển mã, hay còn gọi là dịch bám từ.
Việc gợi lại những ký ức tiềm
ẩn có vai trò quan trọng trong phiên dịch bởi vì tác giả của ngôn bản thường
trình bày nội dung giao tiếp dựa trên những kinh nghiệm, những kiến thức mà họ
cho rằng người tiếp nhận ngôn bản đã có từ trước (kiến thức nền) và những thông
tin mới tiếp nhận được về ngôn cảnh và ngôn bản. Người học nghề dịch sẽ phải học
cách tìm ra những hàm ý thường có rất nhiều trong ngôn bản.
Để chỉ cho học viên thấy tầm
quan trọng của mối liên hệ giữa các ý ẩn với những nội dung thông tin đã được
trình bày trước đó và dạy cho học viên biết cách sử dụng những ký ức tiềm ẩn
giúp cho việc dịch dễ dàng hơn, cần phải cho họ nghe những đoạn dài hơn 3 phút
để họ có thể tiếp cận được với ý nghĩa tổng thể của cả đoạn. Sau đó, người học
sẽ phải đưa ra một câu tóm tắt về đoạn văn, giáo viên hỗ trợ bằng cách đặt câu
hỏi về mỗi ý trọn vẹn nằm trong tổng thể bài chứ không phải nằm trong từng câu
chữ riêng lẻ.
9. Phản ứng với thông tin
Để hiểu đầy đủ một thông tin
mà không chỉ dựa vào những yếu tố ngôn ngữ cấu thành câu, người dịch phải nhận
biết được mối liên hệ giữa thông tin này với thực tại khách quan chứa đựng
trong ngôn bản. Khi người tiếp nhận không hề có phản ứng gì với nội dung thông
tin của ngôn bản, thì ngôn bản đó mãi mãi chỉ là những dấu hiệu âm thanh vô
nghĩa. Ngược lại, nếu người tiếp nhận mà có phản ứng tích cực với thông tin thì
ngôn bản sẽ trở nên sống động với đầy đủ sắc thái ý nghĩa của nó.
Cũng cần lưu ý rằng những
phát ngôn không có liên quan lắm tới mối quan tâm tức thì ở người tiếp nhận thì
ít có khả năng được kết nối với các nội dung thông tin mà người ta đã có được từ
trước và chắc chắn là người tiếp nhận có rất ít phản ứng với những phát ngôn
đó. Vì vậy, để có thể lưu giữ được thông tin vừa tiếp nhận trong bộ nhớ, người
học sẽ phải biết cách kết hợp tối đa những thông tin mà họ vừa mới tiếp nhận với
những gì đã nắm bắt được từ trước, nói cách khác là khi tiếp nhận thông tin mới
họ phải biết liên tưởng tới những thông tin đã tích lũy được từ trước. Đây
chính là các phản ứng cần thiết ở người dịch.
Để luyện kỹ năng này, người
ta có thể sử dụng những thông tin có tính thời sự để giúp cho người học dễ dàng
liên tưởng giữa những gì vừa nghe với những gì đã tích lũy từ trước. Cho họ
nghe từng đoạn rồi yêu cầu họ thử liên hệ nội dung vừa nghe với những thông tin
khác mà họ đã biết. Chẳng hạn như sau khi được nghe đoạn văn
"Le réseau
routier national est celui qui est placé sous la responsabilité de l'Etat. Il
est constitué des routes nationales et des autoroutes, concédées et
non-concédées.",
người học sẽ phải có phản ứng
kiểu như tự nhủ: "Đoạn này giới thiệu về công tác quản lý và cơ cấu của
mạng lưới giao thông đường bộ.".
Hoặc với đoạn văn sau :
"La volonté du
législateur a été de …, tant en termes d'usage qu'en termes de caractéristiques
physiques."
thì người học phải có nhận xét
là "À, đoạn này giải thích tại sao hệ thống giao thông đường bộ của
Pháp lại chỉ có 20000 km.".
Còn sau khi nghe đoạn "Il
est des pays qui parlent au cœur des Français. Le Vietnam est certainement l'un
des premiers d'entre eux. L'histoire nous a unis puis séparés. Nos relations
ont été complexes, parfois dramatiques, semées de fascination et de méfiance
réciproques, mais jamais, jamais d'indifférence." (trích từ Bài phát
biểu của Bộ trưởng Bộ kinh tế Pháp tại phiên khai mạc của Hội đồng cấp cao về
phát triển hợp tác kinh tế Pháp - Việt Nam - HCDCE) thì người học phải có phản ứng
kiểu như : "Đây là phần nói về lịch sử quan hệ giữa hai nước."
Tóm lại, trên đây là một số kỹ
năng và thao tác cơ bản mà người làm công tác phiên dịch phải được rèn luyện để
có thể tiến hành nhận biết và phân tích thông tin trước khi bắt tay vào dịch một
ngôn bản nào đó. Các kỹ năng này phải được bồi dưỡng ngay từ rất sớm trong quá
trình đào tạo nghề dịch./.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét