Thứ Bảy, 15 tháng 3, 2014

Các biện pháp nâng cao khả năng nghe hiểu trong phiên dịch 03

6. Gắn kết ý nghĩa thông báo với các từ có tương đương trong ngôn ngữ đích

Học viên nắm rất nhanh việc nhận ra những từ đơn nghĩa như những con số chỉ số lượng, tên riêng, thuật ngữ kỹ thuật, những từ không cần phải diễn dịch và có thể chuyển mã được từ thứ tiếng này sang thứ tiếng khác nhờ những từ tương đương sẵn có trong ngôn ngữ dịch. Ngay từ đầu, học viên cần được nhắc nhở để ghi chép những từ như vậy trong dịch ứng đoạn và sau đó lập các phiếu thuật ngữ phục vụ cho công tác biên-phiên dịch trong một lĩnh vực cụ thể.


Có thể dịch chuyển mã các thuật ngữ, song không vì thế mà quan niệm rằng không cần hiểu chúng. Dù thế nào thì chúng cũng giữ vai trò nhất định khi được đặt trong câu - điều này được chỉ ra qua ví dụ ở trên về các con số - việc không hiểu chúng có thể ảnh hưởng đến việc hiểu nghĩa tổng thể của cả đoạn. Ngoài ra, do đặc thù của ngôn ngữ nói, việc hiểu chức năng, bản chất của một sự vật được biểu thị bằng khái niệm thường đơn giản hơn là nhận ra một cách rõ ràng cấu trúc ngữ âm của chính bản thân các thuật ngữ đó, ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết khác nhau ở khía cạnh này. Người biên dịch thì có thời gian tra cứu để hiểu thuật ngữ trước khi dịch. Còn những học viên phiên dịch thì phải học cách chỉ cần nghe một lần là hiểu được và chỉ cần dịch một lần là xong những từ có thể chuyển mã được [5].
Từ tương đương thoả đáng chỉ quan trọng sau này, nhưng học viên cần học cách dựa vào việc phân tích ngôn cảnh để khắc phục hạn chế trong khả năng nghe hoặc những khuyết thiếu trong vốn thuật ngữ của mình. Nhiệm vụ quan trọng cần được đề ra ngay từ những bài học dịch đầu tiên là tìm ra sự khác biệt giữa ý nghĩa cần nắm bắt với những đơn vị ngôn ngữ chuyển tải ý nghĩa đó, và thường xuyên phải trừu tượng hóa vỏ ngôn ngữ của các đơn vị đó đi.

7. Trích xuất các ý cấu thành của thông tin

Việc tìm ra mối liên hệ giữa các sự việc, mối quan hệ nhân quả cũng như mối liên hệ giữa các ý là rất quan trọng và cần thiết. Các học viên cần phải học cách phân biệt đâu là ý chính, đâu là những ý phụ và những mối quan hệ gắn kết chúng với nhau. Điều này là quan trọng vì trong một loạt các dữ liệu tiếp nhận được, người học cần học cách phân biệt rõ ý nghĩa của mỗi câu và mối liên kết ý đó với các ý khác trong toàn bộ ngôn bản. Chẳng hạn như trong ngôn bản sau, việc trích xuất các ý cấu thành là điều không thể thiếu nếu người đọc muốn hiểu một cách thấu đáo nội dung mà ngôn bản chuyển tải.
La consistance du réseau routier national
Le réseau routier national est celui qui est placé sous la responsabilité de l'Etat. Il est constitué des routes nationales et des autoroutes, concédées et non-concédées. Le réseau routier national comporte, à l'issue de la nouvelle étape de décentralisation, près de 20 000 km de voies: 11.000 km d'autoroutes, dont 8.200 km sont concédées à des sociétés concessionnaires sous contrat avec l'Etat, et 9.000 km de routes nationales.
La volonté du législateur a été de maintenir sous la responsabilité de l'Etat le seul réseau principal structurant, essentiel pour l'économie du pays. Ce réseau est notamment constitué des autoroutes et des routes qui accueillent les trafics à longue distance, qui assurent la desserte des grandes métropoles régionales et des grands pôles économiques.
Le transfert récent d'environ 18.000 km de routes nationales aux départements (qui sont donc devenues routes départementales) part du constat qu'avec la constitution ces trente dernières années d'un réseau structurant d'autoroutes et de grandes liaisons principales, bon nombre de routes nationales ont perdu leur fonction d'écoulement du trafic de transit. Le réseau autoroutier compte en effet aujourd'hui près de 11.000 km d'autoroutes en service alors que sa longueur était inférieure à 1.000 km en 1970.
Les routes nationales qui ont été transférées aux départements présentaient un intérêt local marqué. Elles ont de grandes similitudes avec les routes départementales, tant en termes d'usage qu'en termes de caractéristiques physiques.



Người đọc sẽ phải trích xuất được các ý chính sau :
1. Cơ cấu của mạng lưới giao thông đường bộ quốc gia Pháp
2. Lý do của tình trạng hiện nay của giao thông đường bộ quốc gia Pháp
Với ý chính thứ nhất, người đọc cần trích xuất được các ý phụ sau :
1.a. Vấn đề quản lý mạng lưới giao thông đường bộ quốc gia Pháp
1.b. Cơ cấu của mạng lưới này (loại đường và tổng chiều dài)
1.c. Mạng lưới này là kết quả của đợt phân cấp quản lý mới đây
Với ý chính thứ hai, người đọc cần trích xuất được các ý phụ sau :
2.a. 30 năm qua ở Pháp đã hình thành nên một mạng lưới đường cao tốc và đường quốc lộ
2.b. Vì lý do trên mà một số tuyến quốc lộ mất đi chức năng đảm bảo giao thông liên tỉnh
2.c. Khi đó, những tuyến quốc lộ này chỉ còn phục vụ chủ yếu nhu cầu của các địa phương
2.d. Vả lại những tuyến quốc lộ này có nhiều nét tương đồng với tỉnh lộ
2.e. Vì vậy chủ trương của các nhà lập pháp là chuyển giao những tuyến đường này cho các tỉnh quản lý và chúng đã trở thành tỉnh lộ
Và đó cũng chính là lời giải thích cho câu hỏi "Tại sao mạng lưới giao thông đường bộ quốc gia của Pháp hiện nay chỉ có tổng chiều dài là 20.000 km."
Đây là một ví dụ về thao tác trích xuất ý cấu thành ý nghĩa của ngôn bản.


8. Kích hoạt các ký ức thụ động tiềm ẩn

Giáo viên sẽ tiếp tục cho học viên làm các phân tích tương tự như vậy đối với những đoạn dài hơn và không yêu cầu là phải nói lại một cách hoàn toàn đầy đủ. Trước tiên, học viên sẽ tóm tắt ngắn gọn các ý chính, sau đó giáo viên giúp học viên bằng cách đặt câu hỏi cho họ. Chúng ta biết rằng khả năng ghi nhớ các thông tin mà con người thu nhận được lớn hơn khả năng khôi phục lại nó một cách tức thì. Nhưng khi có một dấu  hiệu kích thích phù  hợp thì những nội dung thông tin đã được lưu giữ trong bộ nhớ sẽ được tái hiện. Người ta sử dụng khả năng ghi nhớ các sự kiện này để từ chỗ nắm được các ý chính để đi đến sự tái tạo lại một cách đầy đủ nội dung thông tin của ngôn bản mà không bị vướng vào cái bẫy dịch ngôn ngữ, dịch chuyển mã, hay còn gọi là dịch bám từ.
Việc gợi lại những ký ức tiềm ẩn có vai trò quan trọng trong phiên dịch bởi vì tác giả của ngôn bản thường trình bày nội dung giao tiếp dựa trên những kinh nghiệm, những kiến thức mà họ cho rằng người tiếp nhận ngôn bản đã có từ trước (kiến thức nền) và những thông tin mới tiếp nhận được về ngôn cảnh và ngôn bản. Người học nghề dịch sẽ phải học cách tìm ra những hàm ý thường có rất nhiều trong ngôn bản.
Để chỉ cho học viên thấy tầm quan trọng của mối liên hệ giữa các ý ẩn với những nội dung thông tin đã được trình bày trước đó và dạy cho học viên biết cách sử dụng những ký ức tiềm ẩn giúp cho việc dịch dễ dàng hơn, cần phải cho họ nghe những đoạn dài hơn 3 phút để họ có thể tiếp cận được với ý nghĩa tổng thể của cả đoạn. Sau đó, người học sẽ phải đưa ra một câu tóm tắt về đoạn văn, giáo viên hỗ trợ bằng cách đặt câu hỏi về mỗi ý trọn vẹn nằm trong tổng thể bài chứ không phải nằm trong từng câu chữ riêng lẻ.


9. Phản ứng với thông tin

Để hiểu đầy đủ một thông tin mà không chỉ dựa vào những yếu tố ngôn ngữ cấu thành câu, người dịch phải nhận biết được mối liên hệ giữa thông tin này với thực tại khách quan chứa đựng trong ngôn bản. Khi người tiếp nhận không hề có phản ứng gì với nội dung thông tin của ngôn bản, thì ngôn bản đó mãi mãi chỉ là những dấu hiệu âm thanh vô nghĩa. Ngược lại, nếu người tiếp nhận mà có phản ứng tích cực với thông tin thì ngôn bản sẽ trở nên sống động với đầy đủ sắc thái ý nghĩa của nó.
Cũng cần lưu ý rằng những phát ngôn không có liên quan lắm tới mối quan tâm tức thì ở người tiếp nhận thì ít có khả năng được kết nối với các nội dung thông tin mà người ta đã có được từ trước và chắc chắn là người tiếp nhận có rất ít phản ứng với những phát ngôn đó. Vì vậy, để có thể lưu giữ được thông tin vừa tiếp nhận trong bộ nhớ, người học sẽ phải biết cách kết hợp tối đa những thông tin mà họ vừa mới tiếp nhận với những gì đã nắm bắt được từ trước, nói cách khác là khi tiếp nhận thông tin mới họ phải biết liên tưởng tới những thông tin đã tích lũy được từ trước. Đây chính là các phản ứng cần thiết ở người dịch.
Để luyện kỹ năng này, người ta có thể sử dụng những thông tin có tính thời sự để giúp cho người học dễ dàng liên tưởng giữa những gì vừa nghe với những gì đã tích lũy từ trước. Cho họ nghe từng đoạn rồi yêu cầu họ thử liên hệ nội dung vừa nghe với những thông tin khác mà họ đã biết. Chẳng hạn như sau khi được nghe đoạn văn
"Le réseau routier national est celui qui est placé sous la responsabilité de l'Etat. Il est constitué des routes nationales et des autoroutes, concédées et non-concédées.",
người học sẽ phải có phản ứng kiểu như tự nhủ: "Đoạn này giới thiệu về công tác quản lý và cơ cấu của mạng lưới giao thông đường bộ.".
Hoặc với đoạn văn sau :
"La volonté du législateur a été de …, tant en termes d'usage qu'en termes de caractéristiques physiques."
thì người học phải có nhận xét là "À, đoạn này giải thích tại sao hệ thống giao thông đường bộ của Pháp lại chỉ có 20000 km.".
Còn sau khi nghe đoạn "Il est des pays qui parlent au cœur des Français. Le Vietnam est certainement l'un des premiers d'entre eux. L'histoire nous a unis puis séparés. Nos relations ont été complexes, parfois dramatiques, semées de fascination et de méfiance réciproques, mais jamais, jamais d'indifférence." (trích từ Bài phát biểu của Bộ trưởng Bộ kinh tế Pháp tại phiên khai mạc của Hội đồng cấp cao về phát triển hợp tác kinh tế Pháp - Việt Nam - HCDCE) thì người học phải có phản ứng kiểu như : "Đây là phần nói về lịch sử quan hệ giữa hai nước."


Tóm lại, trên đây là một số kỹ năng và thao tác cơ bản mà người làm công tác phiên dịch phải được rèn luyện để có thể tiến hành nhận biết và phân tích thông tin trước khi bắt tay vào dịch một ngôn bản nào đó. Các kỹ năng này phải được bồi dưỡng ngay từ rất sớm trong quá trình đào tạo nghề dịch./.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét