Thứ Bảy, 15 tháng 3, 2014

Nâng cao chất lượng giảng dạy môn phiên dịch

Nâng cao cht lưng giẢng dẠy môn phiên dỊch
trong khoa NN&VH Anh-MỸ, ĐHNN-ĐHQGHN

Th.s  Đỗ Minh Hoàng
Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Anh - M ỹ

1. Giới thiệu
       Bài viết này nhằm mục đích góp phần nâng cao chất lượng đào tạo phiên dịch tại khoa NN&VIỆT NAM Anh-Mỹ nói riêng và tại trường ĐHNN-ĐHQGHN nói chung. Trước hết chúng tôi sẽ điểm qua các lý do cho việc xây dựng chương trình khung cho các học phần Thực hành phiên dịch (dịch nói), để có thể cung cấp cho sinh viên những kiến thức và đặc biệt là kỹ năng cần thiết của người phiên dịch chuyên nghiệp. Chúng tôi cũng giới thiệu nội dung chính của các học phần, phương pháp tổ chức dạy-học và kiểm tra, đánh giá.
       Những người làm công tác giảng dạy cũng như hành nghề biên-phiên dịch đều hiểu rằng quá trình phiên dịch từ một thứ tiếng này sang một thứ tiếng khác là một quá trình phức tạp. Trên thực tế, như Viezzi (1990) đã nói, đó là một quá trình bao gồm các giai đoạn từ nghe hiểu đến chuyển đổi ngôn ngữ và phát ngôn lại. Yếu tố cần thiết để hiểu được bài nói được phân loại thành: khả năng ngôn ngữ, kiến thức xã hội và các yếu tố tâm lý quyết định giao tiếp, nhận thức về vai trò và chức năng của người phiên dịch và hiểu biết về các vấn đề xã hội có liên quan. Tương tự như vậy, dịch chính là sự tái tạo nghĩa câu và từ sao cho phù hợp ở một ngôn ngữ khác tuân theo các nguyên tắc về độ chính xác, sự hoàn chỉnh của bản dịch, khả năng linh hoạt và sự phù hợp về đặc tính ngôn ngữ. Để có được một phần dịch thành công thì người dịch phải nhận thức đầy đủ các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình hiểu và diễn đạt, chẳng hạn các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp như sự công bằng, tính trung lập, khách quan và rõ ràng. Hơn nữa, một phần dịch thành công phải được dựa trên tất cả các yếu tố nói trên vì đây là điều kiện cần thiết cho quá trình hiểu.
       Do vậy, tất cả các yếu tố cần thiết đối với ba giai đoạn nói trên cần được nghiên cứu và thực hành trong khuôn khổ môn học phiên dịch là điều hợp lý.
2. Mục đích
       Mục đích của môn học này là:
·                   Giới thiệu cho sinh viên về công việc của người phiên dịch và các hình thức dịch nói khác nhau: dịch ứng đoạn (bao gồm các kỹ năng ghi chép), nhìn-dịch, và dịch đồng thời (bao gồm nhắc lại có khoảng trễ và dịch thầm đồng thời);
·                   Phát triển khả năng phiên dịch của sinh viên thông qua luyện tập các bài tập song ngữ trong đó có một loạt các kỹ năng liên quan như tóm tắt bằng ngôn ngữ nguồn hoặc tóm tắt bằng ngôn ngữ đích và ghi chép nhanh để dịch;
·                   Nội dung về ngôn ngữ được bố trí theo các mô-đun (tương ứng với những mô-đun trong khối kiến thức về chuyên ngành, văn hoá) cần thiết nhất đối với đối với công việc của người phiên dịch, ví dụ như giáo dục, kinh tế, hội nhập, nông nghiệp, y tế, vv;
·                   Chú ý hơn tới tình huống dịch ba góc (dịch đối thoại) bên cạnh bối cảnh dịch hội thảo và cho sinh viên thực hành dịch ứng đoạn nhiều hơn dịch đồng thời;
·                   Tạo cơ hội cho sinh viên tiếp xúc với những phiên dịch chuyên nghiệp thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau; và
·                   Gắn lý thuyết với thực hành.


3. Nội dung
       Môn học sẽ phải bao gồm  một số lĩnh vực nội dung nhất định (về cả lý thuyết và thực hành phiên dịch) để đạt được những mục tiêu nói trên. Mặc dù cơ sở lý luận chung cho cả phiên dịch và biên dịch đã được xếp vào một môn học riêng nhưng trong nội dung môn học này chúng tôi vẫn thảo luận đôi nét về các khía cạnh lý thuyết có thể áp dụng được riêng đối với môn phiên dịch và gắn liền chúng với thực hành.
       Trong phần này, trước hết chúng tôi xin giới thiệu khái niệm phiên dịch và sự khác nhau giữa phiên dịch và biên dịch, đồng thời giới thiệu các hình thức phiên dịch và cách sử dụng các hình thức này. Weber (1989b) đã chia phiên dịch thành 5 giai đoạn: nghe, nghe tập trung, phân tích, ghi nhớ và/hoặc ghi chép, và phiên dịch/diễn thuyết và sức ép mà người phiên dịch phải đối mặt trong mỗi giai đoạn luyện tập các kỹ năng phiên dịch.
Theo Arjona-Tseng (1990), trong thời gian đầu, hướng dẫn của giáo viên cần tập trung vào việc cung cấp cho sinh viên các kiến thức cơ bản của quá trình giao tiếp, xử lý thông tin và luyện tập với một thời lượng thích hợp cách kiểm soát sự căng thẳng, giọng nói, cách diễn tả, tốc độ dịch và các kỹ năng phát biểu trước công chúng. Môn học này còn bao gồm cả các kỹ năng ghi chép và cách dịch nghĩa các phần ghi chép tóm tắt, viết tắt, tóm tắt thông tin, học thuật ngữ, nói nhại, sử dụng tai nghe, v.v…, và hiển nhiên không thể thiếu việc thực hành phiên dịch với thời lượng lớn trong các tình huống mô phỏng khác nhau. Các khía cạnh quan trọng nhất của môn học này sẽ được thảo luận sâu hơn ở những phần sau.
3.1. Thuật nhớ
       Theo Gentile (1991), yếu tố ngoài ngôn ngữ trước hết gắn liền với dịch nói chính là trí nhớ. Ông nhấn mạnh rằng luyện tập trí nhớ trong các chương trình phiên dịch/biên dịch là vô cùng quan trọng bởi lẽ đôi khi nguyên nhân của dịch không chính xác là do bị ngắt quãng trí nhớ. Do đó việc giới thiệu các thuật nhớ và cách sử dụng các thuật nhớ này trong phiên dịch cần được bao gồm trong chương trình. Luyện trí nhớ có thể được luyện tập thông qua việc hoàn thành các bài tập nói lại thông tin bằng một thứ tiếng hoặc cả hai thứ tiếng. “Bài tập gợi lại trí nhớ”, theo cách gọi của Liu (1990), là một ví dụ về hình thức này, nó đã được sử dụng trong GITIS của Đài Loan (Trường đạo tạo cao học chuyên ngành phiên dịch và biên dịch). Các bài tập như thế này là một bước khởi động chuẩn bị cho dịch ứng đoạn. Sinh viên phải nghe một mẩu tin ngắn, không được ghi chép và phải nhớ lại càng nhiều chi tiết càng tốt bằng cách nhắc lại hoặc viết ra mẩu tin đó. Lượng thông tin được tăng lên dần theo thời gian, từ 20 giây đến 2 phút. Độ khó cũng tăng lên, bắt từ các chuyện kế đơn giản đến các văn bản khó hơn có nhiều con số, thuật ngữ, nhiều tính từ và động từ, v.v… Theo Heynold (1987) và Weber (1989b), các bài tập này giúp sinh viên học cách vận dụng trí nhớ hiệu quả hơn, cách phát triển khả năng nghe hiểu có chọn lọc thông tin, cách diễn đạt ý lô-gíc, cách chia bài nói thành nhiều phần, ô trên trang giấy, và cách vận dụng khả năng phân tích để xây dựng lại bài nói từ các ý chính của bài.
       Các bài tập hữu ích khác áp dụng từ chương trình của Đại học Deakin là các bài tập tóm tắt bài nói bằng một thứ tiếng và bằng hai thứ tiếng. Tóm tắt bài nói bằng ngôn ngữ nguồn, tức là nắm bắt ý chính của một phát ngôn, là một giai đoạn trong quá trình phiên dịch. Kỹ năng này sẽ được dạy chính thức trong giai đoạn đầu của chương trình. Bài tập sẽ được tiến hành dưới dạng nói hoặc viết. Trong giaiđoạn đầu có thể tiến hành bằng tiếng Việt, sau đó sẽ chuyển sang các bài tập tóm tắt bằng tiếng Anh, với độ khó tăng dần.
       Tương tự như vậy, bài tập tóm tắt bằng ngôn ngữ đích có thể được tiến hành trong một lớp học bình thường hoặc trong phòng thiết bị. Một đoạn văn (được ghi âm từ trước hoặc đọc trực tiếp sẽ được phát đến tất cả các máy nghe của sinh viên. Khi đoạn văn được đọc và thu lại, sinh viên nghe và ghi tóm tắt. Sau đó, sinh viên có một vài phút để sắp xếp lại bài ghi chép vừa thực hiện và nói lại bằng một thứ tiếng khác, đồng thời ghi âm phần tóm tắt của mình vào băng. Giáo viên hướng dẫn cần kiểm tra càng nhiều sinh viên càng tốt trong khi sinh viên thực hiện phần ghi âm của mình. Sau khi kết thúc bài tập, sinh viên và giáo viên hướng dẫn cùng thảo luận và nhận xét về các vấn đề cũng như khó khăn hay lỗi thường gặp của sinh viên. Những lỗi này thường liên quan đến ngữ pháp, nội dung đoạn văn, từ vựng, ngữ nghĩa, văn phong, v.v… thời gian còn lại dùng vào việc tự chữa lỗi của sinh viên hoặc dịch ngược lại về thứ tiếng ban đầu rồi so sánh bài của sinh viên với bài gốc.
 3.2. Ghi ý chính để dịch
       Đây là kỹ năng đặc biệt quan trọng đối với công tác phiên dịch và được thiết kế tạo điều kiện dễ dàng hơn cho dịch ứng đoạn. Schweda-Nicholson (1990) giải thích rằng những thông tin ghi chép được sẽ hỗ trợ cả về mặt vật chất cũng như tâm lý chongười dịch, đảm bảo thông tin được chuyển tải đầy đủ, và hơn nữa còn đóng vai trò là xúc tác khơi dậy trí nhớ đối với những thông tin không thể dựa vào ngữ cảnh để suy và khó nhớ như ngày, số liệu, tên riêng, và giúp cho người dịch duy trì đúng trật tự bài nói của diễn giả, đảm bảo tính liền mạch của bài dịch.
       Một điều cần làm rõ ngay từ đầu là sự phân biệt giữa các hình thức ghi chép mà sinh viên vẫn thường thực hiện (ghi bài giảng, kể cả tốc ký) với ghi chép phục vụ mục đích dịch. Hai hình thức này khác nhau trước hết ở mục đích sử dụng, thời điểm sử dụng, và dẫn đến khác nhau ở nội dung và hình thức ghi chép (Jones, 1998)
       Theo Gentile (1990), môn học phiên dịch cần giới thiệu hệ thống kí hiệu hay mối liên hệ giữa phần trình bày của một thông điệp trong bố cục phần ghi ý chính  để dùng cho dịch ứng đoạn. Sinh viên sẽ được thực hành ghi ý chính nhiều hơn, chủ yếu dựa vào tài liệu thuộc các lĩnh vực ngôn ngữ được bao gồm trong những mô-đun tương ứng. Mục đích cuối cùng của việc làm này là giúp sinh viên có khả năng phát triển một hệ thống kí kiệu ghi chép của chính họ.
       Về các kỹ thuật ghi chép, Alexieva (1994), Seleskovitch (1989) và Schweda-Nicholson (1990) đã đưa ra các gợi ý hết sức tỉ mỉ và hữu ích về cách lựa chọn kí hiệu và ngôn ngữ để ghi chép: giữa kí hiệu ngôn ngữ và kí hiệu phi ngôn ngữ, nên ghi chép bằng ngôn ngữ nguồn hay ngôn ngữ đích. Chẳng hạn, Schweda-Nicholson (1990) và Seleskovitch (1989) đã gợi ý rằng chúng ta nên ghi chép bằng ngôn ngữ đích bởi lẽ ngay trong phần ghi chép người dịch đã hoàn thành phần nào bài dịch và với phần ghi chép đã được dịch sẵn, nhiệm vụ dịch sẽ thuận lợi hơn rất nhiều. Theo Seleskovitch (1989), phần ghi chép của người dịch dài hay ngắn không tương ứng với số từ diễn giả nói mà tương ứng với số ý mà người dịch nắm bắt được, những từ ghi chép lại này chính là dấu hiệu nhắc ý chứ không phải là phần ghi lại toàn bộ bài nói. Phần ghi chép càng ít từ thì khả năng diễn đạt và phát triển ý càng cao. Một số kỹ năng có liên quan đến nội dung này bao gồm việc sử dụng từ viết tắt và các biểu tượng phi ngôn ngữ cụ thể, ví dụ như mũi tên, dấu gạch chân (nhấn mạnh) và các kí hiệu toán học, và cách tổ chức trang giấy khi ghi chép (khoảng cách, cách bố trí).
       Bài tập loại này thường được tiến hành trong các buổi học theo phương pháp luyện tập cá nhân. Đôi khi có thể yêu cầu sinh viên ghi chép thông tin lên bảng để cả lớp thảo luận và đánh giá.
3.3. Trình bày và diễn thuyết trước công chúng
       Cũng trong môn học này, chúng tôi xin nói về tầm quan trọng của các kỹ năng phát âm rõ ràng cũng như khả năng diễn thuyết trước công chúng đối với công việc của người phiên dịch, đồng thời giới thiệu các bài tập thực hành cho sinh viên. Các lĩnh vực về nghiên cứu ngôn ngữ cử chỉ và hành động (các yếu tố gần ngôn ngữ) cũng rất hữu ích cho việc thảo luận về sự sắp xếp không gian trong một tình huống phiên dịch (Gentile, 1991). Hơn nữa, do người dịch thường được đánh giá dựa trên chất lượng sản phẩm lời nói của họ nên theo Viezzi (1990), các bài tập thuyết trình là một công cụ tốt để nâng cao khả năng nói của sinh viên. Bên cạnh đó, theo Weber (1989b), các kỹ năng diễn thuyết trước công chúng chính là chiếc “phao an toàn” của người phiên dịch khi gặp phải tình huống khó khăn, bởi vì người dịch có thể chú ý và giải quyết hết những vấn đề trong phạm vi khả năng của mình và thậm chí còn có thể che giấu được những vấn đề đó trong phần dịch. Để phát triển các kỹ năng này, sinh viên sẽ học cách diễn thuyết trước đám đông và tăng cường khả năng linh hoạt ngôn ngữ của mình, bắt đầu từ việc đọc các bài viết đến việc diễn đạt lại từ tiếng Anh sang tiếng Anh, chuyển tải đầy đủ thông điệp của bài viết gốc bằng việc thay đổi cách dùng từ và cấu trúc. Loại bài tập này sẽ bổ trợ cho các bài tập nghe-nhắc lại và tóm tắt đã nói ở trên.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét