Nâng cao chẤt lưỢng
giẢng dẠy môn phiên dỊch
trong khoa
NN&VH Anh-MỸ, ĐHNN-ĐHQGHN
Th.s Đỗ Minh Hoàng
Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Anh - M ỹ
1. Giới thiệu
Bài viết này nhằm mục đích góp phần nâng
cao chất lượng đào tạo phiên dịch tại khoa NN&VIỆT NAM Anh-Mỹ nói riêng và
tại trường ĐHNN-ĐHQGHN nói chung. Trước hết chúng tôi sẽ điểm qua các lý do cho
việc xây dựng chương trình khung cho các học phần Thực hành phiên dịch (dịch
nói), để có thể cung cấp cho sinh viên những kiến thức và đặc biệt là kỹ năng cần thiết của người phiên dịch
chuyên nghiệp. Chúng tôi cũng giới thiệu nội dung chính của các học phần,
phương pháp tổ chức dạy-học và kiểm tra, đánh giá.
Những người làm công tác giảng dạy cũng
như hành nghề biên-phiên dịch đều hiểu rằng quá trình phiên dịch từ một thứ
tiếng này sang một thứ tiếng khác là một quá trình phức tạp. Trên thực tế, như
Viezzi (1990) đã nói, đó là một quá trình bao gồm các giai đoạn từ nghe hiểu
đến chuyển đổi ngôn ngữ và phát ngôn lại. Yếu tố cần thiết để hiểu được bài nói
được phân loại thành: khả năng ngôn ngữ, kiến thức xã hội và các yếu tố tâm lý
quyết định giao tiếp, nhận thức về vai trò và chức năng của người phiên dịch và
hiểu biết về các vấn đề xã hội có liên quan. Tương tự như vậy, dịch chính là sự
tái tạo nghĩa câu và từ sao cho phù hợp ở một ngôn ngữ khác tuân theo các
nguyên tắc về độ chính xác, sự hoàn chỉnh của bản dịch, khả năng linh hoạt và
sự phù hợp về đặc tính ngôn ngữ. Để có được một phần dịch thành công thì người
dịch phải nhận thức đầy đủ các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình hiểu và diễn
đạt, chẳng hạn các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp như sự công bằng, tính trung
lập, khách quan và rõ ràng. Hơn nữa, một phần dịch thành công phải được dựa
trên tất cả các yếu tố nói trên vì đây là điều kiện cần thiết cho quá trình hiểu.
Do vậy, tất cả các yếu tố cần thiết đối
với ba giai đoạn nói trên cần được nghiên cứu và thực hành trong khuôn khổ môn
học phiên dịch là điều hợp lý.
2. Mục đích
Mục đích của môn học này là:
·
Giới thiệu cho sinh viên về công việc
của người phiên dịch và các hình thức dịch nói khác nhau: dịch ứng đoạn (bao
gồm các kỹ năng ghi chép), nhìn-dịch, và dịch đồng thời (bao gồm nhắc lại có
khoảng trễ và dịch thầm đồng thời);
·
Phát triển khả năng phiên dịch của
sinh viên thông qua luyện tập các bài tập song ngữ trong đó có một loạt các kỹ
năng liên quan như tóm tắt bằng ngôn ngữ nguồn hoặc tóm tắt bằng ngôn ngữ đích
và ghi chép nhanh để dịch;
·
Nội dung về ngôn ngữ được bố trí theo
các mô-đun (tương ứng với những mô-đun trong khối kiến thức về chuyên ngành, văn
hoá) cần thiết nhất đối với đối với công việc của người phiên dịch, ví dụ như
giáo dục, kinh tế, hội nhập, nông nghiệp, y tế, vv;
·
Chú ý hơn tới tình huống dịch ba góc
(dịch đối thoại) bên cạnh bối cảnh dịch hội thảo và cho sinh viên thực hành
dịch ứng đoạn nhiều hơn dịch đồng thời;
·
Tạo cơ hội cho sinh viên tiếp xúc với
những phiên dịch chuyên nghiệp thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau; và
·
Gắn lý thuyết với thực hành.
3. Nội dung
Môn học sẽ phải bao gồm một số lĩnh vực nội dung nhất định (về cả lý thuyết
và thực hành phiên dịch) để đạt được những mục tiêu nói trên. Mặc dù cơ sở lý
luận chung cho cả phiên dịch và biên dịch đã được xếp vào một môn học riêng
nhưng trong nội dung môn học này chúng tôi vẫn thảo luận đôi nét về các khía
cạnh lý thuyết có thể áp dụng được riêng đối với môn phiên dịch và gắn liền
chúng với thực hành.
Trong phần này, trước hết chúng tôi xin
giới thiệu khái niệm phiên dịch và sự khác nhau giữa phiên dịch và biên dịch,
đồng thời giới thiệu các hình thức phiên dịch và cách sử dụng các hình thức
này. Weber (1989b) đã chia phiên dịch thành 5 giai đoạn: nghe, nghe tập trung,
phân tích, ghi nhớ và/hoặc ghi chép, và phiên dịch/diễn thuyết và sức ép mà
người phiên dịch phải đối mặt trong mỗi giai đoạn luyện tập các kỹ năng phiên
dịch.
Theo Arjona-Tseng
(1990), trong thời gian đầu, hướng dẫn của giáo viên cần tập trung vào việc
cung cấp cho sinh viên các kiến thức cơ bản của quá trình giao tiếp, xử lý
thông tin và luyện tập với một thời lượng thích hợp cách kiểm soát sự căng thẳng, giọng nói, cách diễn tả,
tốc độ dịch và các kỹ năng phát biểu trước công chúng. Môn học này còn bao gồm
cả các kỹ năng ghi chép và cách dịch nghĩa các phần ghi chép tóm tắt, viết tắt,
tóm tắt thông tin, học thuật ngữ, nói nhại, sử
dụng tai nghe, v.v…, và hiển nhiên không thể thiếu việc thực hành phiên dịch
với thời lượng lớn trong các tình huống mô phỏng khác nhau. Các khía cạnh quan
trọng nhất của môn học này sẽ được thảo luận sâu hơn ở những phần sau.
3.1. Thuật
nhớ
Theo Gentile (1991), yếu tố ngoài ngôn ngữ
trước hết gắn liền với dịch nói chính là trí nhớ. Ông nhấn mạnh rằng luyện tập
trí nhớ trong các chương trình phiên dịch/biên dịch là vô cùng quan trọng bởi
lẽ đôi khi nguyên nhân của dịch không chính xác là do bị ngắt quãng trí nhớ. Do
đó việc giới thiệu các thuật nhớ và cách sử dụng các thuật nhớ này trong phiên
dịch cần được bao gồm trong chương trình. Luyện trí nhớ có thể được luyện tập
thông qua việc hoàn thành các bài tập nói lại thông tin bằng một thứ tiếng hoặc
cả hai thứ tiếng. “Bài tập gợi lại trí nhớ”, theo cách gọi của Liu (1990), là
một ví dụ về hình thức này, nó đã được sử dụng trong GITIS của Đài Loan (Trường
đạo tạo cao học chuyên ngành phiên dịch và biên dịch). Các bài tập như thế này
là một bước khởi động chuẩn bị cho dịch ứng đoạn. Sinh viên phải nghe một mẩu
tin ngắn, không được ghi chép và phải nhớ lại càng nhiều chi tiết càng tốt bằng
cách nhắc lại hoặc viết ra mẩu tin đó. Lượng thông tin được tăng lên dần theo
thời gian, từ 20 giây đến 2 phút. Độ khó cũng tăng lên, bắt từ các chuyện kế
đơn giản đến các văn bản khó hơn có nhiều con số, thuật ngữ, nhiều tính từ và
động từ, v.v… Theo Heynold (1987) và Weber (1989b), các bài tập này giúp sinh
viên học cách vận dụng trí nhớ hiệu quả hơn, cách phát triển khả năng nghe hiểu
có chọn lọc thông tin, cách diễn đạt ý lô-gíc, cách chia bài nói thành nhiều
phần, ô trên trang giấy, và cách vận dụng khả năng phân tích để xây dựng lại
bài nói từ các ý chính của bài.
Các bài tập hữu ích khác áp dụng từ
chương trình của Đại học Deakin là các bài tập tóm tắt bài nói bằng một thứ
tiếng và bằng hai thứ tiếng. Tóm tắt bài nói bằng ngôn ngữ nguồn, tức là nắm
bắt ý chính của một phát ngôn, là một giai đoạn trong quá trình phiên dịch. Kỹ
năng này sẽ được dạy chính thức trong giai đoạn đầu của chương trình. Bài tập
sẽ được tiến hành dưới dạng nói hoặc viết. Trong giaiđoạn đầu có thể tiến hành
bằng tiếng Việt, sau đó sẽ chuyển sang các bài tập tóm tắt bằng tiếng Anh, với
độ khó tăng dần.
Tương tự như vậy, bài tập tóm tắt bằng
ngôn ngữ đích có thể được tiến hành trong một lớp học bình thường hoặc trong
phòng thiết bị. Một đoạn văn (được ghi âm từ trước hoặc đọc trực tiếp sẽ được
phát đến tất cả các máy nghe của sinh viên. Khi đoạn văn được đọc và thu lại,
sinh viên nghe và ghi tóm tắt. Sau đó, sinh viên có một vài phút để sắp xếp lại
bài ghi chép vừa thực hiện và nói lại bằng một thứ tiếng khác, đồng thời ghi âm
phần tóm tắt của mình vào băng. Giáo viên hướng dẫn cần kiểm tra càng nhiều
sinh viên càng tốt trong khi sinh viên thực hiện phần ghi âm của mình. Sau khi
kết thúc bài tập, sinh viên và giáo viên hướng dẫn cùng thảo luận và nhận xét
về các vấn đề cũng như khó khăn hay lỗi thường gặp của sinh viên. Những lỗi này
thường liên quan đến ngữ pháp, nội dung đoạn văn, từ vựng, ngữ nghĩa, văn
phong, v.v… thời gian còn lại dùng vào việc tự chữa lỗi của sinh viên hoặc dịch
ngược lại về thứ tiếng ban đầu rồi so sánh bài của sinh viên với bài gốc.
3.2. Ghi ý chính để dịch
Đây là kỹ năng đặc biệt
quan trọng đối với công tác phiên dịch và được thiết kế tạo điều kiện dễ dàng
hơn cho dịch ứng đoạn. Schweda-Nicholson (1990) giải thích rằng những thông tin
ghi chép được sẽ hỗ trợ cả về mặt vật chất cũng như tâm lý chongười dịch, đảm bảo
thông tin được chuyển tải đầy đủ, và hơn nữa còn đóng vai trò là xúc tác khơi dậy
trí nhớ đối với những thông tin không thể dựa vào ngữ cảnh để suy và khó nhớ
như ngày, số liệu, tên riêng, và giúp cho người dịch duy trì đúng trật tự bài
nói của diễn giả, đảm bảo tính liền mạch của bài dịch.
Một điều cần làm rõ
ngay từ đầu là sự phân biệt giữa các hình thức ghi chép mà sinh viên vẫn thường
thực hiện (ghi bài giảng, kể cả tốc ký) với ghi chép phục vụ mục đích dịch. Hai
hình thức này khác nhau trước hết ở mục đích sử dụng, thời điểm sử dụng, và dẫn
đến khác nhau ở nội dung và hình thức ghi chép (Jones, 1998)
Theo Gentile (1990), môn học phiên dịch
cần giới thiệu hệ thống kí hiệu hay mối liên hệ giữa phần trình bày của một
thông điệp trong bố cục phần ghi ý chính
để dùng cho dịch ứng đoạn. Sinh viên sẽ được thực hành ghi ý chính nhiều
hơn, chủ yếu dựa vào tài liệu thuộc các lĩnh vực ngôn ngữ được bao gồm trong
những mô-đun tương ứng. Mục đích cuối cùng của việc làm này là giúp sinh viên
có khả năng phát triển một hệ thống kí kiệu ghi chép của chính họ.
Về các kỹ thuật ghi chép, Alexieva
(1994), Seleskovitch (1989) và Schweda-Nicholson (1990) đã đưa ra các gợi ý hết
sức tỉ mỉ và hữu ích về cách lựa chọn kí hiệu và ngôn ngữ để ghi chép: giữa kí
hiệu ngôn ngữ và kí hiệu phi ngôn ngữ, nên ghi chép bằng ngôn ngữ nguồn hay
ngôn ngữ đích. Chẳng hạn, Schweda-Nicholson (1990) và Seleskovitch (1989) đã
gợi ý rằng chúng ta nên ghi chép bằng ngôn ngữ đích bởi lẽ ngay trong phần ghi
chép người dịch đã hoàn thành phần nào bài dịch và với phần ghi chép đã được
dịch sẵn, nhiệm vụ dịch sẽ thuận lợi hơn rất nhiều. Theo Seleskovitch (1989),
phần ghi chép của người dịch dài hay ngắn không tương ứng với số từ diễn giả
nói mà tương ứng với số ý mà người dịch nắm bắt được, những từ ghi chép lại này
chính là dấu hiệu nhắc ý chứ không phải là phần ghi lại toàn bộ bài nói. Phần
ghi chép càng ít từ thì khả năng diễn đạt và phát triển ý càng cao. Một số kỹ
năng có liên quan đến nội dung này bao gồm việc sử dụng từ viết tắt và các biểu
tượng phi ngôn ngữ cụ thể, ví dụ như mũi tên, dấu gạch chân (nhấn mạnh) và các
kí hiệu toán học, và cách tổ chức trang giấy khi ghi chép (khoảng cách, cách bố
trí).
Bài tập loại này thường được tiến hành
trong các buổi học theo phương pháp luyện tập cá nhân. Đôi khi có thể yêu cầu
sinh viên ghi chép thông tin lên bảng để cả lớp thảo luận và đánh giá.
3.3. Trình
bày và diễn thuyết trước công chúng
Cũng trong môn học này, chúng tôi xin nói
về tầm quan trọng của các kỹ năng phát âm rõ ràng cũng như khả năng diễn thuyết
trước công chúng đối với công việc của người phiên dịch, đồng thời giới thiệu
các bài tập thực hành cho sinh viên. Các lĩnh vực về nghiên cứu ngôn ngữ cử chỉ
và hành động (các yếu tố gần ngôn ngữ) cũng rất hữu ích cho việc thảo luận về
sự sắp xếp không gian trong một tình huống phiên dịch (Gentile, 1991). Hơn nữa,
do người dịch thường được đánh giá dựa trên chất lượng sản phẩm lời nói của họ
nên theo Viezzi (1990), các bài tập thuyết trình là một công cụ tốt để nâng cao
khả năng nói của sinh viên. Bên cạnh đó, theo Weber (1989b), các kỹ năng diễn
thuyết trước công chúng chính là chiếc “phao an toàn” của người phiên dịch khi
gặp phải tình huống khó khăn, bởi vì người dịch có thể chú ý và giải quyết hết
những vấn đề trong phạm vi khả năng của mình và thậm chí còn có thể che giấu
được những vấn đề đó trong phần dịch. Để phát triển các kỹ năng này, sinh viên
sẽ học cách diễn thuyết trước đám đông và tăng cường khả năng linh hoạt ngôn
ngữ của mình, bắt đầu từ việc đọc các bài viết đến việc diễn đạt lại từ tiếng
Anh sang tiếng Anh, chuyển tải đầy đủ thông điệp của bài viết gốc bằng việc
thay đổi cách dùng từ và cấu trúc. Loại bài tập này sẽ bổ trợ cho các bài tập
nghe-nhắc lại và tóm tắt đã nói ở trên.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét