Các biện pháp nâng cao khả năng nghe hiểu trong phiên dịch
Tóm tắt
Phiên dịch là một
hoạt động trí óc cần có những kỹ năng chuyên biệt. Một trong những kỹ năng
không thể thiếu là nghe hiểu. Nghe hiểu của phiên dịch viên có nhiều điểm tương
đồng với nghe hiểu thông thường nhưng cũng có những đặc thù riêng. Để có thể hiểu
chính xác ý định giao tiếp và nội dung của thông điệp, người học nghề phiên dịch
cần được rèn luyện nhiều thao tác quan trọng như nắm nghĩa của phát ngôn, nâng cao tốc độ phân tích thông tin, hình dung ra nội dung của phát ngôn, xác định
các phân đoạn của phát ngôn, à
hiểu các con số, gắn kết ý nghĩa thông báo với các biểu thức ngôn ngữ tương
đương trong ngôn ngữ đích, trích xuất các ý cấu thành của thông tin, kích hoạt
các ký ức thụ động tiềm ẩn, phản ứng với thông tin.
Abstract
Interpreting is a cognitive activity requiring specialist skills, among
which listening comprehension is indispensable. There are certain similarities
between listening comprehension in general and that of the interpreter, however,
the interpreter’s listening comprehension does have distinctive features.. To
be able to understand exactly the communicative intention and the content of
the message, the interpreter trainee must have the chance to practice various
procedures such as comprehending the meaning of the
utterance,increasing the speed of analyzing information, visualizing the
content of the utterance, determining chunks of the utterance, listening and
understanding figures, combining the communicative meaning with words having
equivalents in the target language, identifying the ideas constituting the
complete message, activating the passive hidden memories, reacting to the given
information.
Từ khóa : phiên dịch, nghe hiểu,
nghĩa ngôn bản, nghĩa ngôn ngữ, phát ngôn, ngôn bản, phân tích thông tin, dịch
chuyển mã.
Để dịch tốt, phiên dịch viên
cần có nhiều kiến thức, kỹ năng. Nhưng quan trọng nhất vẫn là phải hiểu được
ngôn bản. Chính vì vậy mà nhiệm vụ hàng đầu của một chương trình đào tạo phiên dịch
là luyện cho học viên khả năng nắm được nghĩa của phát ngôn. Nghe hiểu ngoại ngữ
nói chung vốn đã bị coi là khó, nghe hiểu đối với phiên dịch viên, do yêu cầu của
công việc, lại càng là một thách thức lớn. Bài viết này sẽ đề cập đến một số biện
pháp nâng cao khả năng nghe hiểu, vấn đề cốt lõi của toàn bộ quá trình phiên dịch.
Trên thực tế giao tiếp hàng ngày có nhiều kiểu nghe. Trong đó có thể kể đến
một số kiểu phổ biến nhất sau đây.
Trước tiên là kiểu nghe có chọn lọc. Với kiểu nghe này, người nghe
chỉ chú ý rút ra những điểm quan trọng của một phát ngôn để khi cần có thể sử
dụng lại sau này. Đây là kiểu nghe thường gặp ở các học viên trong các giờ học
được tổ chức dưới dạng thuyết trình.
Kiểu nghe tiếp theo là của những người
tham gia vào một cuộc thảo luận. Lúc này, người nghe sẽ chú ý đến hệ quả của những điều được nói ra, sẽ
xác lập cho mình một quan điểm ủng hộ hay phản bác; người nghe chỉ giữ lại
những gì mà họ có ý định sử dụng để phục vụ cho việc bảo vệ quan điểm của mình
hoặc để bác bỏ quan điểm của người khác.
Người ta cũng có thể nghe từng ngôn từ, suy nghĩ về cách dùng từ, về cách
chơi chữ. Đó là cách nghe của các nhà ngôn ngữ học hoặc của các ca sĩ [1].
Cuối cùng có thể kể đến cách
nghe của phiên dịch viên, một thính giả rất đặc biệt. Phiên dịch viên không
hề tham gia vào buổi nói chuyện với tư cách cá nhân, mà cố gắng tập trung tối
đa để hiểu dụng ý của người nói và nắm bắt tất cả các sắc thái ý nghĩa của phát
ngôn. Đây chính là cách nghe cần được hình thành ở người học nghề phiên dịch. Họ
phải có khả năng phân tích được thông tin trong một khoảng thời gian rất ngắn
do tốc độ nói của người thuyết trình quy định. Để làm được việc này, họ phải học
cách nhận diện được trong chuỗi lời nói cái mà họ cần tập trung sự chú ý. Điều
này đòi hỏi người nghe phải hoàn toàn thoải mái về tinh thần, tránh mọi căng thẳng,
tránh để ý đến những gì không liên quan đến nội dung thông báo như giọng địa phương hay thói quen nói năng của
người đang phát biểu.
1. Nắm nghĩa của phát ngôn
Một điều có vẻ lạ đối với những
người không làm nghề phiên dịch, đó là các phiên dịch viên phải trừu tượng hoá
đến mức tối đa các từ ngữ nghe được để có thể hoàn toàn tập trung vào thông
tin. Nhờ vào cách nghe ở cấp độ trên từ, phiên dịch viên không chỉ hiểu những
gì được thể hiện thông qua từ mà còn liên tưởng đến những kiến thức bách khoa
mà mình đã tích luỹ được cần cho việc hiểu ngôn bản. Sở dĩ như vậy là vì ý
nghĩa ngôn ngữ của một phát ngôn không hẳn đã đồng nhất với ý nghĩa cụ thể của
phát ngôn đó trong một hoàn cảnh cụ thể với một cá nhân cụ thể.
Để nghe được một thông tin mà
không nghe từng từ cần sử dụng nhiều phương cách khác nhau như: hình dung cụ thể
tất cả các tình huống có thể hình dung được, phản ứng với tất cả các thông tin,
thậm chí chỉ cần tự nói thầm với chính bản thân rằng mình không biết chỗ này
không biết chỗ kia. Sự kết hợp các ý
sẽ giúp cho việc hình thành nên ý nghĩa của thông báo và sẽ được ghi nhớ tốt
hơn là việc nhắc lại từ cho dù việc làm đó nhằm mục đích dịch bằng một từ tương
đương ngôn ngữ hoặc là để nhớ kỹ những gì đã được nói ra. Tìm cách nhớ từ sẽ
khiến cho người nghe vừa bị sa lầy vào vỏ ngôn ngữ mà lẽ ra cần phải thoát khỏi
cái đó lại vừa không hiểu kỹ những gì được
mang lại từ các thao tác hình dung cũng như những phản ứng về khái niệm, cảm xúc
đối với thông tin, sự kích hoạt những kỷ niệm tiềm ẩn hay sự nhận diện các phân
đoạn của phát ngôn.
Vì vậy, học viên cần được rèn
luyện cách nghe nghĩa của phát ngôn; họ chỉ có thể bắt tay vào dịch ứng đoạn (interprétation consécutive) khi biết
cách sử dụng các biện pháp cho phép hiểu và tái tạo lại chính xác một thông tin
[2].
Loại hình bài tập sử dụng
trong chương trình đào tạo phiên dịch không thay đổi từ kỳ thi tuyển sinh cho đến
kỳ thi tốt nghiệp : học viên được nghe nghe một ngôn bản sau đó tái tạo lại nội
dung của ngôn bản đó; nhưng mỗi giai đoạn đào tạo lại có mục đích riêng và học
viên sẽ phải giải quyết những khó khăn khác nhau. Ví dụ như việc luyện cách
nghe nghĩa của phát ngôn sẽ có mục tiêu cụ thể với một thông tin có độ dài nhất
định, với những yêu cầu và sự chính xác riêng. Nguyên tắc này cũng áp dụng
cho tất cả các nội dung giảng dạy khác.
Chính vì thế, tất cả các bài
tập đầu tiên sẽ chỉ nhằm mục đích luyện cách nghe hiểu cho học viên chứ không
phải là nhằm luyện dịch ứng đoạn hay dịch song hành, việc học viên nói lại nội
dung sau khi nghe chỉ có thể tạm gọi là "dịch ứng đoạn không có ghi
chép". Với loại hình bài tập nghe để nắm nghĩa đầu tiên này, học viên
sẽ nghe các bài trích từ báo hoặc tạp chí cung cấp tin tức thời sự hoặc những
văn bản dành cho công chúng rộng rãi mà học viên thường đọc. Sau đó học viên phải
tái tạo lại nội dung chính của văn bản với tính liên kết chặt chẽ của nó. Điều
đó không có nghĩa là làm một bài tập dịch dựa theo trí nhớ mà là kể lại nội
dung đã được nghe một cách đơn giản nhất và bằng một ngôn ngữ khác. Để tránh
cho học viên những khó khăn không cần thiết trong giai đoạn này thì thông tin
đưa ra cần phải được lấy từ các vấn đề mang tính thời sự, song không nhất thiết
là chỉ chọn những nội dung mà họ đã biết. Một điều cần lưu ý là thông tin đó
không được chứa các lập luận trái ngược nhau mà mang trong mình một lập luận có
tính lô-gíc rõ ràng. Nói cách khác, thông tin đó phải dễ hiểu, ít nhiều đã được
mọi người biết và có tính lô-gíc phổ biến.
Để có thể đánh giá một cách
chính xác mức độ tiến bộ của học viên, độ khó của các thông tin này không được cao
hơn độ khó của các thông tin ở các kỳ thi tuyển đầu vào; trong quá trình dạy, giáo
viên sẽ chỉ cho học viên thấy những gì họ cần phải làm để vượt lên trên những
gì họ biết làm một cách thành thạo để có thể tiếp tục hoàn thiện kỹ năng dịch.
Về mặt ngôn ngữ, cần lưu ý để
các thông tin được trình bày bằng một ngôn ngữ giàu hình ảnh, có nhiều thành ngữ,
tránh sử dụng các văn bản lấy từ các tổ chức quốc tế vì loại văn bản này thường
được soạn thảo bằng một thứ ngôn ngữ có
nhiều sự pha trộn giữa các ngôn ngữ được sử dụng trong tổ chức quốc tế đó, và tất
nhiên là cũng cần tránh sử dụng các văn bản đã được dịch từ một ngoại ngữ khác.
Việc bảo đảm cho văn bản được trình bày bằng ngôn ngữ gốc sẽ giúp học viên
tránh được cách dịch chuyển mã [3].
Ngay từ đầu không nên cho
nghe những câu ngắn vì làm như vậy thì có nguy cơ làm cho học viên có một xu hướng
không tốt đó là nhớ từ. Nói chung là nên cho nghe những đoạn văn bản có độ dài
trên một phút nhưng cũng không nên dài quá hai phút rưỡi.
Sau đây là một ví dụ được đưa
ra trong cuốn "Interpréter pour traduire" [4] về cách
học nghe nghĩa của một đoạn văn bản trích từ một bài báo của tạp chí Economist
ra ngày 1 tháng 12 năm 1984 và được sử dụng vào ngày 5 tháng 12 cùng năm. Tính
thời sự của văn bản này có vai trò quan trọng vì có thể là học viên đã biết được nội dung cơ bản của
thông tin. Nhưng cũng cần phải thừa nhận là văn phong của văn bản này khá đặc
thù với rất nhiều cấu trúc câu ấn tượng vì phóng viên muốn thu hút sự chú ý của
độc giả. Giáo viên có thể dùng bài báo này để làm cho học viên thấy được sự
khác biệt giữa việc nghe hình thức ngôn ngữ và việc ngay từ đầu cần nghe các ý ẩn
chứa trong thông tin.
Học viên được yêu cầu chỉ tập
trung vào thông tin, tránh dừng lại ở câu chữ của văn bản; học viên nghe với một
câu hỏi thường trực trong đầu: "Văn bản này bàn về vấn đề gì?"
nhằm mục đích tóm tắt lại nội dung văn bản sau khi nghe. Văn bản trong ví dụ
sau đây là một đoạn hoàn chỉnh nhưng chỉ có phần in nghiêng mới phục vụ mục
đích minh hoạ.
"In
the next few days Britain's
House of Commons will be asked to approve the draft agreement between Britain and China
under which Hongkong will bc returned to China in 1997. Assuming that the
Commons says yes, Mrs Thatcher will go to Peking
on December l8th to sign the agreement which was initialled there in September.
Next year Britain's
parliament will pass legislation allowing Britain
to return to China the bit
of Hongkong ‑ about a twelfth of the present territory ‑ which was, in theory,
given in perpetuity to Britain
(the rest is on a 99‑year lease). China's National People's Congress
also has some legislating to do. By next June, the legal formalities, if not
all the details, should have been dealt with. Britain will have finally accepted
notice to quit one of its last bits of empire.
Mrs
Thatcher has said that the agreement must be acceptable to the people of
Hongkong. When the British Members of Parliament debate the matter, they will
have an "assessment" of local opinion carried out by the Hongkong
government. The assessment got off to a bad start, when it was disclosed that
the opinions offered by Hongkongers would be made public ‑ not for 30 years, to
be sure, according to the Hongkong government, but this did not seem to
reassure nervous opinion‑expressers, Since the agreement was unchangeable, the
assessors added, no suggested changes would be welcomed.
The Hongkong government later changed its mind,
promising to destroy individual statements after the agreement has been
ratified, and saying that all views would be of interest. In the event,
Hongkong's 5m people produced fewer than 3.000 letters from individuals, plus
submissions from 250 local groups.
Most of the Hongkongers who spoke up seemed to
feel that the draft agreement is a lot better than the plan the Chinese had
threatened to impose off their
own bat if no agreement with the British had been achieved. This shrug‑of‑the‑shoulders,
best‑we‑can‑do attitude was reflected in an opinion poll of 6.140 Hongkongers
published on November 25th".
Ý của
đoạn văn bản này khá đơn giản nhưng các ngữ thức được sử dụng lại nặng về mặt
câu chữ như: the assessment got of to a
bad start, not for thirty years to be sure, opinion expressers, assessors
có nguy cơ thu hút sự chú ý của học viên (dù đã được giáo viên cảnh báo) đến mức
nội dung thông tin có thể bị che khuất. Vì vậy, cần phải cho học viên luyện tập
thường xuyên với dạng bài tập tái tạo lại ý ngôn bản, và ở gian đầu của quá
trình đào tạo nên áp dụng hình thức viết lại nội dung đã được nghe. Giáo viên đặt
cho học viên những câu hỏi về mặt nội dung của văn bản để tránh hiện tượng học
viên nghe bám từ. Ví dụ như những câu hỏi sau: "Bài báo nói đến thoả thuận nào? Nội dung của thoả thuận đó là gì? Những
nước nào ký thoả thuận đó? Người ta muốn biết thái độ, tình cảm của ai?".
Cho học viên nghe lại văn bản cho đến khi họ có thể trả lời hết các câu hỏi và
làm được một đoạn tóm tắt gần giống với tóm tắt sau: "Các nhà chức
trách Hồng Kông phải cho Quốc hội Anh biết
thái độ, tình cảm của người dân về thoả thuận mới được ký kết gần đây giữa
Vương quốc Anh và Cộng
hoà Nhân dân Trung Hoa.
Người dân rất ngần ngại đưa ra ý kiến của mình dù họ được bảo
đảm rằng câu trả lời của họ còn phải rất lâu nữa mới được công bố. Tuy nhiên, để
trấn an dư luận vốn lo ngại câu trả lời của mình có thể rơi vào tay kẻ xấu,
chính quyền Hồng Kông đã hứa sẽ huỷ hoàn toàn các câu trả lời này. Tuy nhiên rất
ít người dân Hồng Kông đồng ý công khai
quan điểm của mình. Nhưng theo kết quả một cuộc điều tra, dư luận chung của người
dân Hồng Kông là thích Bản thoả thuận đó hơn là một giải pháp do Trung Quốc đơn phương áp đặt."
Sau một
quá trình thảo luận với sự đóng góp của toàn bộ học viên, giáo viên có được một
bài tóm tắt tổng hợp và cho đọc lại đoạn văn bản; một cách hoàn toàn tự nhiên,
nghĩa mà học viên nghe được sẽ khẳng định từng điểm của bài tóm tắt. Giáo viên
cho nghe lại văn bản để cho học viên nắm vững nghĩa của văn bản; học viên phải
học để làm sao chỉ sau một lần nghe đúng cách là đã có thể nắm ngay được nghĩa
của văn bản.
Không
nhất thiết phải sử dụng những câu phi thực tế như những câu của tờ Economist.
Một loạt phát ngôn được đưa ra liên tục kiểu như "Thanh niên tạo thành một đội quân thất
nghiệp đông đảo." mà chúng ta sẽ thấy trong bài báo như: unemployement is to be found in the main
among the young. Ví dụ này cho thấy rằng lúc này yêu cầu đặt ra vẫn chỉ là
một diễn dịch thể hiện nghĩa của các ngữ thức mà chưa bàn đến hình ảnh do câu
chữ đó tạo ra.
Khi học
viên đã hiểu được mục đích của bài tập (nghe để nắm được ý chính và sau đó có
thể diễn đạt lại những ý đó mà không bị lệ thuộc vào từ ngữ), giáo viên sẽ
không cho nghe lại bản gốc nếu như phần lớn học viên của lớp chưa nói được ý
chính của văn bản. Ví dụ sau đây được trích từ một bài phát biểu bằng tiếng Anh
giới thiệu một phần mềm vi tính có tính năng hỗ trợ bác sĩ chẩn đoán bệnh. Đoạn
trích này dài 1 phút 25 giây.
"Medicomp can not only recognise disorders
that affect several of the body's organ systems - eg, diabetes - but it can
distinguish between chronic and acute discase (ie, between prolonged, internal
diseases and sudden infectious illnesses). Both fcatures promise to make it
particularly useful when a diagnosis is in doubt. When confronted with a tüugh
case, doctors typically have an idea about what ails the patient uppermost in
their minds and others they arc keeping in reserve. Under such circumstances,
advice from the computer suggesting that one of the latter is plausible can
result in a doctor promptly ordering up the portineryt Ciagnostic tests instead
of waiting several days until the first possibilities have been ruled out."
Giáo
viên lần lượt yêu cầu một số học viên nói lại nội dung của đoạn trích mà không
cho nhắc lại văn bản.
Học
viên thứ 1 : "Như vậy, tất cả các
chương trình này đều có nhiều tính năng khác, nghĩa là… chương trình này cho
phép bác sĩ biết được bệnh nhân mắc phải căn bệnh kinh niên hay chỉ là một căn
bệnh do nhiễm trùng. Điều này có thể rất có ích cho bác sĩ bởi vì khi bác sĩ chẩn
đoán bệnh cho một bệnh nhân, thông thường trong đầu đã hình dung sẵn một căn bệnh
nào đó, nói đúng hơn là bác sĩ tin rằng đó chính là bệnh đó… nhưng cũng có thể
trong đầu bác sĩ có nhiều khả năng khác. Vì vậy, nếu như một trong những khả
năng này được máy tính phát hiện thì điều đó có thể cho phép bác sĩ tiến hành
xét nghiệm các căn bệnh này thay vì phải đợi mất mấy ngày để xem liệu khả năng
đầu tiên có bị loại bỏ hay không."
Người
ta có cảm giác rằng học viên đã nắm được thông tin, tuy nhiên chưa chắc thông
tin đó đã được diễn đạt lại bằng một thứ ngôn ngữ đích chuẩn. Đây không phải là
lúc chữa văn phong ngôn ngữ đích của học viên vì họ vẫn hiểu rằng tài liệu này
nói về những phân tích y học, ngay cả khi họ không có thuật ngữ chính xác trong
ngôn ngữ đích. Yêu cầu đặt ra cho học viên là hiểu được nghĩa một cách chính
xác để trình bày lại vấn đề cũng với độ chính xác như vậy. Ba học viên khác diễn
đạt lại thông tin này. Về sau, khi văn bản gốc bị quên dần thì càng nhiều học
viên có thể diễn đạt một cách chính xác hơn cái mình đã hiểu.
Học
viên thứ hai: "Chương trình cho phép
xác định căn bệnh mà bệnh nhân mắc phải có phải là bệnh kinh niên hay bệnh do
lây nhiễm và chương trình này còn có một ưu điểm khác nữa là: nếu bác sĩ cho rằng
đã xác định được bệnh của bệnh nhân nhưng vẫn chưa chắc chắn về chẩn đoán của
mình và nghĩ rằng bệnh nhân có thể còn mắc một số bệnh khác. Và thay vì phải đợi
mấy ngày sau để xem những biến đổi của các triệu chứng của bệnh nhân thì bác sĩ
có thể nhờ đến máy tính và yêu cầu máy tính xác định xem liệu các triệu chứng
mà bác sĩ đã nêu ra có trùng hợp với các với các bệnh khác hay không.
"
Học
viên thứ ba: "Khi chẩn đoán bệnh,
bác sĩ quan sát thấy một vài triệu chứng. Những triệu chứng này làm bác sĩ nghĩ
đến một căn bệnh, trong khi đó có thể có nhiều căn bệnh khác có cùng triệu chứng
như vậy. Vì bác sĩ cũng chỉ là một con người nên từ những triệu chứng này ông
có thể nghĩ rằng bệnh nhân đã mắc một căn bệnh cụ thể và ông sẽ theo dõi căn bệnh
đó… "
Giáo
viên yêu cầu cả lớp: "Hãy giải thích
cho tôi chức năng hỗ trợ chẩn đoán của máy tính?"
Học
viên thứ tư: "Khi nhận thấy những
triệu chứng trùng hợp với nhiều bệnh khác nhau, bác sĩ có thể dùng đến máy tính
và máy tính có trong bộ nhớ các xét nghiệm để khẳng định hoặc phủ định một chẩn
đoán nào đó sẽ có thể cho bác sĩ biết kết quả mà không cần phải đợi cho đến khi
xét nghiệm kết thúc…"
Khi
nhận thấy có sự khác biệt về ý và học viên biết nghe một cách thông minh hơn,
giáo viên sẽ cho học viên nghe lại toàn bài bằng tiếng Anh để cuối cùng có được
một bài tóm tắt sát với bản gốc :"Khi
chẩn đoán bệnh, bác sĩ nghĩ đến một căn bệnh cụ thể nhưng cũng biết rằng còn có
thể có các khả năng khác và ông yêu cầu xét nghiệm đối với loại bệnh mà ông chẩn
đoán. Nếu như ông nhờ đến máy tính thì máy tính sẽ nói rằng có một số bệnh khác
cũng có thể có những triệu chứng tương tự. Khi đó, ông sẽ yêu cầu xét nghiệm đối
với những căn bệnh mà máy tính đưa ra và thay vì phải đợi các kết quả xét nghiệm
của chỉ một căn bệnh và để xem bệnh nhân có mắc bệnh đó hay không, ông có thể
yêu cầu làm xét nghiệm đồng thời cho nhiều căn bệnh khác nhau. Như thế sẽ tiết
kiệm thời gian hơn."
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét